Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới cộng đồng lấy người dân làm trung tâm
Sáng 9/6 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự và phát biểu khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 (ASEAN Future Forum - AFF 2026) với chủ đề “Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm”. Sự kiện quy tụ hơn 600 đại biểu, gồm lãnh đạo cấp cao nhiều quốc gia ASEAN, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và chuyên gia trong khu vực.
Được khởi xướng từ năm 2023, Diễn đàn Tương lai ASEAN đã trở thành kênh đối thoại quan trọng, bổ trợ hiệu quả cho các tiến trình hợp tác chính thức của ASEAN. AFF 2026 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi năm 2026 đánh dấu 50 năm Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), đồng thời là năm đầu tiên triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.
Phát biểu tại phiên khai mạc, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh câu hỏi chiến lược đặt ra cho khu vực không chỉ là ASEAN thích ứng như thế nào trước những biến động toàn cầu, mà còn là ASEAN sẽ chủ động định hình tương lai của chính mình ra sao trong thế kỷ XXI.
Theo Thủ tướng, trong bối cảnh công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và chuyển đổi xanh đang tái định hình mô hình phát triển toàn cầu, ASEAN cần chuyển từ vị thế thích ứng sang vai trò kiến tạo. Việt Nam tin tưởng ASEAN không chỉ là bên tiếp nhận các xu thế mới mà phải trở thành một động lực góp phần định hình các chuẩn mực và xu hướng phát triển của thời đại.
Người đứng đầu Chính phủ đề xuất ASEAN hướng tới ba tầm vóc chiến lược gồm: trở thành chủ thể tham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mực toàn cầu; phát triển từ trung tâm sản xuất thành trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ và kinh tế số; đồng thời xây dựng một cộng đồng thực sự lấy người dân làm trung tâm.
Thủ tướng khẳng định mục tiêu cuối cùng của mọi chiến lược phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo cơ hội cho thế hệ trẻ, thúc đẩy bình đẳng và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Việt Nam cam kết tiếp tục đồng hành cùng ASEAN trong quá trình hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, góp phần xây dựng một khu vực hòa bình, tự cường và thịnh vượng.
Ô tô điện tiếp tục được miễn 100% lệ phí trước bạ lần đầu đến hết năm 2030
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 202/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 10/2022/NĐ-CP về lệ phí trước bạ, trong đó tiếp tục áp dụng mức thu lệ phí trước bạ lần đầu bằng 0% đối với ô tô điện chạy pin đến hết ngày 31/12/2030.
Theo quy định mới, ô tô điện chạy pin đăng ký lần đầu sẽ được miễn hoàn toàn lệ phí trước bạ trong giai đoạn từ khi nghị định có hiệu lực đến hết năm 2030. Việc phân loại ô tô điện chạy pin được thực hiện theo quy định của Bộ Xây dựng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 và thay thế Nghị định 51/2025/NĐ-CP.
Đây được xem là bước tiếp nối chính sách ưu đãi dành cho phương tiện giao thông xanh đã được Chính phủ triển khai từ năm 2022. Trước đó, xe ô tô điện chạy pin được miễn 100% lệ phí trước bạ trong 3 năm đầu từ ngày 1/3/2022 và được hưởng mức thu bằng 50% so với xe xăng, dầu trong 2 năm tiếp theo. Đến năm 2025, Chính phủ tiếp tục kéo dài chính sách miễn lệ phí trước bạ lần đầu đến hết tháng 2/2027.
Theo Bộ Tài chính, việc áp dụng mức lệ phí trước bạ 0% trong thời gian qua đã góp phần thúc đẩy thị trường xe điện phát triển, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất, phân phối phương tiện xanh, đồng thời khuyến khích người tiêu dùng chuyển đổi từ xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang xe điện.
Trong bối cảnh thị trường ô tô điện toàn cầu tăng trưởng mạnh, với doanh số năm 2024 vượt 17 triệu xe và dự kiến đạt trên 20 triệu xe trong năm 2025, nhiều quốc gia đang đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Bộ Tài chính cho rằng việc kéo dài chính sách miễn lệ phí trước bạ đến năm 2030 sẽ góp phần giảm chi phí sở hữu xe điện, hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp ô tô điện trong nước, thúc đẩy mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ môi trường và thực hiện chiến lược chuyển đổi sang các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường.
Triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm đất đai trước năm 2024, tháo gỡ dự án tồn đọng
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1020/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trên phạm vi cả nước.
Theo kế hoạch, việc triển khai Nghị quyết nhằm xử lý dứt điểm các tồn tại kéo dài nhiều năm, khơi thông nguồn lực đất đai và tạo điều kiện thúc đẩy các dự án chậm triển khai quay trở lại hoạt động. Chính phủ yêu cầu quá trình thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả.
Các bộ, ngành và địa phương được giao đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết thông qua hội nghị, tọa đàm, tài liệu hướng dẫn và các hoạt động truyền thông nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động. Công tác này sẽ được triển khai xuyên suốt trong năm 2026.
Về hoàn thiện hành lang pháp lý, Bộ Công an được giao xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện các cơ chế đặc thù liên quan đến hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án đối với các vi phạm đất đai xảy ra trước thời điểm Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, hoàn thành trong tháng 8/2026. Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng nghị định sửa đổi quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật đất đai nhưng không liên quan đến tham nhũng, dự kiến trình trong tháng 7/2026.
Bên cạnh đó, các bộ, ngành liên quan sẽ rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định phù hợp với Nghị quyết. Việc rà soát phải hoàn thành chậm nhất vào ngày 30/8/2026.
Kế hoạch được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để xử lý các sai phạm tồn đọng, tháo gỡ điểm nghẽn cho hàng loạt dự án, qua đó khai thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Điều chỉnh thuế xuất khẩu một số mặt hàng khoáng sản, khuyến khích chế biến sâu
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 201/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng tại Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP. Việc điều chỉnh nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ, đẩy mạnh chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng trong khai thác, sử dụng khoáng sản.
Theo quy định mới, thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng khoáng fluorite có hàm lượng canxi florua trên 97% tính theo khối lượng (mã HS 2529.22.00) được giảm từ 10% xuống còn 5%.
Đối với mặt hàng bismut và các sản phẩm từ bismut thuộc nhóm mã HS 81.06, Nghị định thực hiện phân tách thành các mã hàng chi tiết ở cấp độ 10 số, bao gồm các sản phẩm bismut xi măng dạng bột và dạng bánh, cũng như các sản phẩm có hàm lượng bismut trên 70% và không quá 99,99% tính theo khối lượng. Các mặt hàng này được áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu mới là 0%.
Theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh thuế suất xuất khẩu được xây dựng trên cơ sở định hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến và phát triển các sản phẩm khoáng sản có giá trị gia tăng cao thay vì xuất khẩu nguyên liệu thô.
Chính sách mới cũng nhằm thúc đẩy sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, đồng thời bảo đảm phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam.
Bộ Tài chính cho rằng việc giảm thuế đối với các sản phẩm đã qua chế biến sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trên thị trường quốc tế, khuyến khích hình thành chuỗi sản xuất và chế biến sâu, qua đó gia tăng giá trị xuất khẩu và hiệu quả khai thác tài nguyên.
Nghị định 201/2026/NĐ-CP là một bước điều chỉnh chính sách thuế theo hướng hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến, gắn khai thác tài nguyên với yêu cầu tiết kiệm, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Bộ Chính trị định hướng tinh giản 5-10% biên chế giai đoạn 2027-2031
Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 40 về quản lý biên chế của hệ thống chính trị, giao biên chế năm 2026 và định hướng giai đoạn 2027-2031. Theo đó, mục tiêu tiếp tục tinh giản từ 5-10% biên chế toàn hệ thống chính trị được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, cải cách hành chính.
Kết luận yêu cầu việc tinh giản biên chế phải gắn với phân cấp, phân quyền, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm đầu mối trung gian và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm. Đây cũng là cơ sở để nâng cao năng suất lao động khu vực công, cải cách chính sách tiền lương và giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước.
Một điểm đáng chú ý là Bộ Chính trị yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý biên chế” sang “quản trị nguồn nhân lực quốc gia phục vụ phát triển đất nước”. Việc xác định biên chế phải dựa trên dữ liệu, khối lượng công việc và hiệu quả thực thi nhiệm vụ, thay vì quản lý theo số lượng đơn thuần.
Theo định hướng mới, các cơ quan chức năng sẽ định kỳ đánh giá cán bộ, công chức, viên chức bằng các chỉ số lượng hóa cụ thể; đồng thời xây dựng cơ chế sàng lọc, thay thế những trường hợp không đáp ứng yêu cầu công việc. Bộ Chính trị nhấn mạnh thực hiện nguyên tắc “có vào - có ra”, không để tồn tại tâm lý vào biên chế là ổn định suốt đời.
Bên cạnh đó, việc rà soát, điều chuyển biên chế giữa các đơn vị sẽ được thực hiện thường xuyên nhằm khắc phục tình trạng nơi thiếu nhân lực nhưng không được bổ sung, trong khi một số đơn vị hiệu quả thấp vẫn duy trì biên chế ổn định. Các địa phương, bộ, ngành được yêu cầu hoàn thành việc đưa số lượng cán bộ, công chức, viên chức về đúng chỉ tiêu biên chế được giao trong năm 2026.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu nghiên cứu đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, y tế và mở rộng quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập nhằm tạo đột phá trong tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công.