|
| Theo nhận định của Ban Bí thư, hiện công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng còn bộc lộ nhiều bất cập. Ảnh minh họa: Internet |
Từ những bất cập thực tế…
Chia sẻ với phóng viên Báo Đấu thầu, Lãnh đạo Công ty CP Đầu tư và xây dựng giao thông Phương Thành cho biết, hiện nay, công tác quy hoạch và cấp phép mỏ vật liệu xây dựng vẫn "chậm chân" so với thực tế. Bất cập đầu tiên nằm ở sự "lệch pha" giữa quy hoạch khoáng sản và nhu cầu thực tế của các dự án. Nhiều mỏ cát, đất nằm trong quy hoạch nhưng chưa được cấp phép, hoặc quy trình cấp phép kéo dài từ 1-2 năm với hàng loạt thủ tục hành chính phức tạp. Khi các dự án cao tốc được triển khai theo cơ chế đặc thù, thần tốc, thì việc chuẩn bị nguyên vật liệu lại vẫn vận hành theo cơ chế cũ, dẫn đến tình trạng dự án chờ... cát, đất, đá…
Một số nhà thầu cho biết, hiện cơ chế giá và sự thao túng của thị trường đen đang là vấn đề nan giải đè trên vai các nhà thầu xây dựng khi tồn tại khoảng chênh lệch đáng kể giữa giá công bố nhà nước và giá thực tế thị trường. Đơn giá vật liệu do các địa phương công bố thường thấp hơn nhiều so với giá thực tế tại mỏ hoặc giá thương thảo. Tình trạng đầu cơ vật liệu xây dựng rất phổ biến khi biết có dự án lớn đi qua, việc gom mỏ, găm hàng, đẩy giá lên cao diễn ra như “cơm bữa”. Chính vì vậy, nhà thầu càng làm càng lỗ do biến động giá vật liệu chiếm tới 30-40% chi phí xây dựng, dẫn đến tâm lý thi công cầm chừng, chậm tiến độ công trình.
Bên cạnh đó, việc quản lý liên vùng chưa tốt nên vẫn còn tư duy "cục bộ địa phương". Hiện nay, việc quản lý vật liệu vẫn mang nặng tính địa giới hành chính. Một số địa phương có nguồn trữ lượng dồi dào nhưng lại hạn chế xuất biên giới tỉnh để "dự phòng" cho nhu cầu nội tỉnh hoặc lo ngại về vấn đề môi trường, sạt lở. Sự thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa tỉnh có mỏ và tỉnh có dự án khiến vật liệu không được điều tiết hiệu quả, gây ra tình trạng nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu. Chẳng hạn Hà Nội đang triển khai hàng loạt công trình trọng điểm quốc gia nhưng lại sở hữu rất ít mỏ cát, đất, đá nên việc tổ chức thi công các công trình lớn đều phải “trông chờ và chộp giật” từ nguồn cung các tỉnh lân cận.
Theo ý kiến của chuyên gia đầu tư, hiện nay đang có sự chậm trễ trong việc ứng dụng vật liệu thay thế. Chúng ta đang quá phụ thuộc vào cát tự nhiên và đất mượn. Việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng cát biển hay tro xỉ nhiệt điện làm vật liệu san lấp dù đã có chủ trương nhưng việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật vẫn còn chậm. Điều này khiến các nhà thầu e dè, không dám mạnh dạn thay thế vì lo ngại rủi ro pháp lý và chất lượng công trình.
Theo nhận định của Ban Bí thư, hiện công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng còn bộc lộ nhiều bất cập. Chẳng hạn quy hoạch, chiến lược phát triển ngành chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu; cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng thiếu đồng bộ, chưa sát thực tế; đầu tư phát triển dàn trải, thiếu trọng tâm, dẫn đến tình trạng có lúc, có nơi, có mặt hàng mất cân đối cung-cầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội; hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của doanh nghiệp còn hạn chế; việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa được đẩy mạnh; sử dụng tài nguyên, khoáng sản chưa tiết kiệm, hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh vẫn xảy ra thường xuyên.
... đến hàng loạt giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, phục vụ các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, tại Chỉ thị 03-CT/TW, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt hàng loạt nhiệm vụ, giải pháp.
Theo đó, Ban Bí thư yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân; xác định rõ vai trò quan trọng của ngành vật liệu xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với phòng, chống, thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Phát triển ngành vật liệu xây dựng bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, gắn với nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sản xuất và sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải, thân thiện với môi trường.
Giải pháp tiếp theo là rà soát, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, chiến lược về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp thực tiễn, bảo đảm sự phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ hiện đại, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu bổ sung vào danh mục quy hoạch ngành đối với phát triển một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu: xi-măng, thép, gạch ốp lát, kính xây dựng. Ban Bí thư yêu cầu rà soát, nghiên cứu ban hành luật về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thực chất, khả thi thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với kết quả nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành. Có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương; tiếp tục cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính liên quan đến quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù bảo đảm vật liệu san lấp cho các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia. Cùng với đó là rà soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế-kỹ thuật bảo đảm phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; tăng cường năng lực kiểm định, kiểm tra, giám sát chất lượng; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chứng nhận, cơ quan kiểm định về vật liệu xây dựng.
Thứ ba là phát triển vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, gắn với việc triển khai chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh, yêu cầu nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Khuyến khích phát triển các loại vật liệu Việt Nam có lợi thế, vật liệu mới, kỹ thuật cao, thông minh; vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; vật liệu tái chế trên cơ sở đánh giá hiệu quả tổng thể, lâu dài… Ban Bí thư yêu cầu tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ, thống nhất về vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đẩy mạnh cấp phép thăm dò, khai thác theo quy hoạch nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất. Khuyến khích hình thành các khu vực chế biến khoáng sản tập trung, hiệu quả, giảm thất thoát, tiết kiệm tài nguyên cũng như kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng triệt để các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm phát thải. Sử dụng hệ thống xử lý bụi, khí thải đạt chuẩn quốc tế; kiên quyết loại bỏ các công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng lạc hậu, gây ô nhiễm, thâm dụng tài nguyên.
Chỉ thị 03-CT/TW nhấn mạnh, kiên quyết không cấp phép nhập khẩu công nghệ, dây chuyền sản xuất cũ, không cấp phép đầu tư, mở rộng các dự án chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, thâm dụng năng lượng, tài nguyên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, gây ô nhiễm môi trường, nhất là các trường hợp tái phạm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu trong quản lý hoạt động thăm dò, khai thác, xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng…
Thứ tư là đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có cơ chế đủ hấp dẫn để thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu mới, thân thiện môi trường, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa…
Cuối cùng là đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế để thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn nước ngoài đầu tư, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu-phát triển công nghệ tại Việt Nam; thúc đẩy tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, nâng cao trình độ quản trị và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước…