|
| Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã quyết định những vấn đề đặc biệt quan trọng, đánh dấu khởi đầu của nhiệm kỳ mới, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc cho Việt Nam bứt phá vươn tầm. Ảnh: Quý Bắc |
Tự chủ kinh tế - nền tảng của độc lập, tự cường quốc gia
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa bản lề, quyết định khả năng bứt phá và nâng cao vị thế của đất nước. Trên nền tảng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm Đổi mới, đất nước ta đã tích lũy được thế và lực mới, tiềm lực mới, vị thế mới. Tuy nhiên, cùng với đó là những yêu cầu cao hơn, phức tạp hơn đối với công cuộc phát triển, nhất là khi môi trường quốc tế đang vận động nhanh, cạnh tranh gay gắt và những chuẩn mực phát triển mới liên tục hình thành.
Trong bối cảnh đó, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi liền với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, có năng lực thích ứng cao với mọi tác động từ bên ngoài là vấn đề mang tầm chiến lược gắn với độc lập, tự cường và tương lai phát triển của dân tộc. Đây không phải là sự lựa chọn mang tính tình thế, càng không phải là sự thu mình hay khép kín, mà là lựa chọn có tính nguyên tắc và lâu dài, nhằm bảo đảm cho Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và giữ vững quyền tự quyết đối với con đường phát triển của mình.
Lịch sử phát triển thế giới cho thấy, những quốc gia không làm chủ được nền tảng kinh tế của mình thì sớm muộn cũng rơi vào thế bị động, lệ thuộc hoặc dễ tổn thương trước những biến động từ bên ngoài. Ngược lại, chỉ khi có nền kinh tế đủ mạnh về thực lực, có sức chống chịu cao và có khả năng vươn lên những nấc thang giá trị cao hơn thì quốc gia, dân tộc ấy mới có thể giữ vững độc lập chính trị, bảo đảm an ninh phát triển và khẳng định vị thế trong hệ thống quốc tế.
Từ rất sớm, Đảng ta đã nhận thức rõ vấn đề trên và nhất quán xác định: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải gắn với mở cửa và hội nhập quốc tế chủ động, tích cực; phát huy nội lực là quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực và sức mạnh thời đại. Đây là tư duy biện chứng, vượt lên trên những cách hiểu giản đơn đối lập giữa tự chủ và hội nhập, giữa độc lập và mở cửa.
Thực tiễn đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối của Đảng. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc, tăng trưởng bứt phá; thiết lập quan hệ kinh tế - thương mại với hầu hết quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Năm 2025, tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 8,02%, đưa bình quân cả giai đoạn 2021 - 2025 đạt mức cao hàng đầu khu vực (6,3%). Quy mô kinh tế đạt trên 514 tỷ USD (xếp thứ 32 thế giới), thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 5.000 USD. Lạm phát được kiểm soát (3,31%), nợ công giảm còn 34,4% GDP, thu ngân sách đạt kỷ lục 2,65 triệu tỷ đồng (vượt 34%), khẳng định nội lực mạnh mẽ của nền kinh tế 1.
Tuy nhiên, đứng ở ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới, bên cạnh những biến động phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nội tại: nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực đầu tư nước ngoài và một số thị trường chủ yếu; năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, năng suất lao động và sức cạnh tranh nội sinh còn hạn chế; khả năng thích ứng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển mới... Những yếu tố này nếu không được nhận diện đầy đủ và xử lý kịp thời sẽ trở thành điểm nghẽn chiến lược, cản trở khả năng bứt phá của đất nước.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong giai đoạn hiện nay phải được hiểu là quá trình nâng cao toàn diện năng lực nội sinh của nền kinh tế, đó là năng lực làm chủ thể chế, công nghệ, nguồn lực và các lựa chọn phát triển; năng lực chủ động định hình mô hình tăng trưởng mới, hiệu quả, không bị cuốn theo những trào lưu nhất thời; năng lực tham gia hội nhập với vị thế cao hơn trong mạng sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu; năng lực duy trì ổn định và phát triển trong những điều kiện khó khăn, phức tạp, những cú sốc từ bên ngoài.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu “Tăng trưởng và phát triển cần đi liền với tăng cường tự chủ chiến lược quốc gia trên các lĩnh vực; nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường của nền kinh tế” 2; hội nhập quốc tế phải mang tính chất “đồng bộ, toàn diện, sâu rộng” 3. Tinh thần đó thể hiện rõ thông điệp xuyên suốt: tự chủ là điều kiện để hội nhập hiệu quả, nội lực là cơ sở để tận dụng tốt ngoại lực, bản lĩnh chiến lược là yếu tố quyết định giúp đất nước đứng vững và vươn lên trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có năng lực thích ứng cao chính là nền tảng vật chất - chiến lược của độc lập, tự cường quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Đây là điều kiện để Việt Nam trụ vững trước những thay đổi nhanh của thời cuộc; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới.
Nội lực dân tộc - động lực quyết định sức bật trong kỷ nguyên mới
Trong lịch sử phát triển của dân tộc, mỗi bước chuyển quan trọng của đất nước đều gắn liền với sự phát huy sức mạnh của Nhân dân, nội lực của dân tộc. Đó là sự kết tinh của lòng yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên, trí tuệ, bản lĩnh và sức sáng tạo của con người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của văn hóa, truyền thống đoàn kết, vượt khó, dám nghĩ, dám làm; là năng lực tự tổ chức, tự điều chỉnh và tự đổi mới của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội... Chính những giá trị đó đã giúp dân tộc ta vượt qua những thời khắc cam go và từng bước khẳng định vị thế, phát triển, vươn lên mạnh mẽ trong dòng chảy lịch sử.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng và sự khẳng định vị thế của đất nước thì vai trò của nội lực, tự lực, tự cường càng rõ nét. Nếu trong những giai đoạn trước, việc tranh thủ và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài góp phần mở rộng không gian phát triển thì trong bối cảnh mới, khả năng bứt phá và phát triển bền vững của đất nước phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh nội sinh.
Trước hết, nội lực dân tộc kết tinh ở con người Việt Nam - chủ thể trung tâm của quá trình phát triển. Với quy mô dân số hơn 100 triệu người, Việt Nam đang sở hữu một nguồn lực con người giàu tiềm năng, trình độ ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó là truyền thống hiếu học, cần cù, sáng tạo, tinh thần vượt khó được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Nội lực dân tộc còn được thể hiện ở thể chế, năng lực tổ chức và quản trị quốc gia, cũng như khả năng huy động và phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống thể chế phát triển đất nước, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện hơn; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; năng lực điều hành vĩ mô, ứng phó với các biến động và rủi ro được nâng lên rõ rệt. Đây là những nền tảng quan trọng để khơi thông và phát huy sức mạnh nội sinh trong điều kiện mới.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh, vì vậy phải luôn được phát huy để bảo đảm tính chủ động, độc lập, tự cường; đồng thời, cần tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực” 4. Quan điểm đó khẳng định vai trò nền tảng của nội lực đối với sự phát triển của đất nước; đồng thời chỉ rõ, chỉ khi khơi dậy và phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đất nước mới có thể bứt phá trong giai đoạn mới. Nói cách khác, muốn hội nhập quốc tế hiệu quả, Việt Nam nhất định phải khởi phát từ chính mình. Một quốc gia chỉ vươn ra thế giới thành công khi có nền tảng nội lực đủ mạnh để không bị hòa tan.
Nội lực cần được bồi đắp bền vững bằng đầu tư cho giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng đội ngũ doanh nhân dân tộc có khát vọng, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội; hình thành một xã hội học tập, một nền văn hóa đổi mới và tinh thần cống hiến lan tỏa trong toàn dân. Đây chính là những động lực bên trong tạo nên sức bật dài hạn cho sự phát triển của đất nước.
Nhìn tổng thể, trong kỷ nguyên phát triển mới, nội lực dân tộc giữ vai trò quyết định đối với khả năng bứt phá và vươn lên của đất nước. Khi được khơi thông, tổ chức và dẫn dắt đúng hướng, nội lực sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn, giúp Việt Nam vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ và hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.
Văn hóa - nguồn lực chiến lược trong kỷ nguyên hội nhập có chọn lọc
Nếu kinh tế tạo nên nền tảng vật chất và nội lực quyết định sức bật phát triển, thì văn hóa hình thành nền tảng tinh thần, chiều sâu giá trị và chất lượng của sự phát triển. Văn hóa kiến tạo bản sắc, hun đúc bản lĩnh, định hình hệ giá trị và bồi đắp niềm tin xã hội - những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và có chiều sâu, ý nghĩa. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, văn hóa ngày càng được nhận diện như một nguồn lực chiến lược đặc biệt cho sự phát triển của quốc gia. Quan điểm này được thể hiện nhất quán trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, khi khẳng định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới” 5.
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam đã kết tinh nên những giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung; truyền thống hiếu học, cần cù, sáng tạo; khát vọng hòa bình, hợp tác và phát triển... Những giá trị đó không chỉ định hình bản sắc dân tộc, mà còn tạo nên hình ảnh một Việt Nam thân thiện, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh thế giới ngày càng coi trọng uy tín, niềm tin và chuẩn mực giá trị, những yếu tố mềm văn hóa tạo nên lợi thế bền vững cho vị thế quốc gia, dân tộc.
Bên cạnh quy mô kinh tế và tiềm lực quân sự, vị thế của một quốc gia hiện nay còn được xác lập thông qua khả năng truyền cảm hứng, mức độ hấp dẫn về văn hóa, độ tin cậy về thể chế và sự đồng thuận về giá trị. Ở phương diện đó, văn hóa trở thành “ngôn ngữ” đặc biệt giúp Việt Nam kết nối với thế giới, xây dựng lòng tin, mở rộng hợp tác và hóa giải khác biệt.
Những năm gần đây, hình ảnh Việt Nam ngày càng hiện diện rõ nét và tích cực trên trường quốc tế, thể hiện cả qua thành tựu phát triển kinh tế lẫn bản sắc văn hóa, tinh thần hòa hiếu, trách nhiệm và thiện chí hợp tác. Việt Nam được nhìn nhận là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các cơ chế đa phương, quốc gia yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và sẵn sàng đóng góp cho các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Nền tảng văn hóa - chính trị đó tạo nên chiều sâu và độ bền vững cho uy tín quốc gia.
Ở trong nước, văn hóa giữ vai trò đặc biệt trong việc tạo dựng đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần tự lực, tự cường dân tộc. Một xã hội có nền tảng văn hóa lành mạnh sẽ có năng lực tự điều chỉnh cao, khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến động và thách thức mới; đồng thời tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới vì thế không dừng lại ở bảo tồn di sản hay phát huy truyền thống, mà là quá trình hiện đại hóa các giá trị, chuyển hóa văn hóa thành động lực phát triển. Văn hóa cần được lan tỏa thành sức mạnh của con người Việt Nam trong khởi nghiệp, lao động, sáng tạo và hội nhập; trở thành nền tảng đạo đức của quản trị, kinh doanh và hoạt động xã hội; là nguồn cảm hứng cho đổi mới và khát vọng vươn lên.
Đặc biệt, trong xu thế chuyển đổi số, kinh tế sáng tạo, văn hóa cần được khẳng định như một nguồn lực kinh tế mới bên cạnh giá trị tinh thần vốn có. Du lịch văn hóa, công nghiệp sáng tạo, truyền thông số, nội dung số, thiết kế, nghệ thuật, giải trí… đang mở ra không gian phát triển rộng lớn, vừa tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế, vừa lan tỏa hình ảnh và bản sắc Việt Nam ra thế giới.
Nhận thức đó đòi hỏi phải đặt văn hóa vào vị trí trung tâm trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, với vai trò là không gian sáng tạo và động lực phát triển lâu dài. Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho con người, cho nền tảng xã hội và cho sức mạnh bền vững của dân tộc.
Bởi vậy, phát huy sức mạnh mềm văn hóa của dân tộc không phải là một nhiệm vụ mang tính bổ trợ, mà là một yêu cầu nội tại của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên mà chất lượng tăng trưởng, chiều sâu văn hóa và uy tín quốc gia trở thành những tiêu chí quan trọng của năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Khi được đặt đúng vị trí, được đầu tư đúng mức và được phát huy đúng hướng, văn hóa sẽ trở thành lực đỡ tinh thần cho cải cách và đổi mới, nguồn lực mềm cho hội nhập và hợp tác, là nền tảng giá trị bảo đảm cho sự phát triển hài hòa, bền vững và giàu bản sắc của dân tộc.
Tóm lại, tự lực, tự cường trong kỷ nguyên phát triển mới là điều kiện để hội nhập quốc tế được triển khai một cách chủ động, hiệu quả và bền vững. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam chính là con đường căn bản nhằm củng cố nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, đồng thời giữ vững bản sắc dân tộc, bản lĩnh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển hùng cường.
* Tạp chí Cộng sản
1. “Từ bản lĩnh vượt khó đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 15-1-2026.
2. “Tổng Bí thư Tô Lâm: Xác lập mô hình tăng trưởng mới trước hết phải chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy”, Quân đội nhân đân điện tử, ngày 7-1-2026.
3. Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 1.059, tháng 4-2025, tr. 11
4. Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tlđd, tr. 11
5. “Toàn văn: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 18-1-2026.