Mở đường cho mô hình phát triển mới

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Dù ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng và chính thức gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa lịch sử với bài toán: làm sao để thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045.

Việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, từ giao thông, năng lượng đến hạ tầng số sẽ tạo tiền đề vững chắc đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Ảnh: Tiên Giang
Việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, từ giao thông, năng lượng đến hạ tầng số sẽ tạo tiền đề vững chắc đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Ảnh: Tiên Giang

Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước khuyến nghị việc thực hiện một cuộc tái cơ cấu sâu rộng, lấy cải cách thể chế làm "đột phá của đột phá" để mở đường cho mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

00-15-1.jpg

Cải cách mạnh mẽ để đưa Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình

GS. TS. Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP.HCM

Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao nếu tiếp tục duy trì mô hình tăng trưởng cũ. Tuy nhiên, nếu thực hiện cải cách mạnh mẽ, đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và tập trung xử lý đúng các điểm nghẽn, mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được trong khoảng năm 2045 - 2047.

Trong kịch bản cải cách, cốt lõi là chuyển từ mô hình 1I, thuần dựa vào đầu tư (Investment) sang mô hình 3I toàn diện, gồm Đầu tư (Investment), Lan tỏa công nghệ (Infusion) và Đổi mới sáng tạo (Innovation). Mô hình mới đòi hỏi tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP - đo lường tăng trưởng không do tăng thêm vốn hay lao động) phải bứt phá, tập trung vào vốn đầu tư cho công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, thu hút FDI thế hệ mới phải gắn liền với chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa tham gia sâu hơn và tiến lên những nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngoài ra, Việt Nam còn rất nhiều dư địa phát triển xuất khẩu dịch vụ khi tỷ trọng hiện tại mới đạt 9,5%, thấp hơn đáng kể so với mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD. Điều quan trọng nhất là khát vọng thu nhập cao phải luôn đi đôi với ổn định vĩ mô, nâng cao năng suất, bảo đảm tính cân bằng và bao trùm.

00-15-2.jpg

Thể chế linh hoạt, chủ động sẽ là tiền đề để hình thành các không gian tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Quốc Việt, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việc Trung ương ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Sự thay đổi này thể hiện tầm nhìn toàn diện khi chuyển trọng tâm từ đổi mới mô hình tăng trưởng đơn thuần sang mô hình phát triển tổng thể. Ở đó, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với nâng cao chất lượng phát triển, năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện trực tiếp chất lượng cuộc sống của người dân.

Bước ngoặt tư duy này xuất phát từ thực tiễn khách quan sau gần 40 năm Đổi mới. Nhờ duy trì đà tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam đã tích lũy được những tiền đề vật chất và vị thế quan trọng. Quy mô nền kinh tế liên tục được mở rộng, năng lực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và môi trường đầu tư không ngừng cải thiện.

Tuy nhiên, những thành tựu ấy lại đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi mô hình phát triển. Động lực tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc vào các lợi thế truyền thống đang dần tới hạn như lao động chi phí thấp, tài nguyên và mở rộng vốn đầu tư. Trong khi đó, các yếu tố nền tảng của một nền kinh tế hiện đại như năng suất lao động, hàm lượng công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa phát huy vai trò chủ đạo. Dù Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút thành công dòng vốn FDI, nhưng mức độ làm chủ công nghệ còn hạn chế. Sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước chưa đủ chặt chẽ để tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Hệ quả là tăng trưởng chưa dựa nhiều vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giá trị gia tăng nội địa còn thấp, dẫn đến nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình luôn hiện hữu nếu không kịp thời hình thành các động lực mới.

Để vượt qua thách thức này, cải cách thể chế được xác định là khâu đột phá quan trọng nhất nhằm khơi thông mọi nguồn lực. Cải cách thể chế mang ý nghĩa chuyển đổi phương thức vận hành bộ máy nhà nước: từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Đây là điều kiện tiên quyết để mở ra không gian đổi mới sáng tạo cho cả cơ quan quản lý lẫn cộng đồng doanh nghiệp. Trong bối cảnh các lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn hay AI đang bùng nổ, một hệ thống thể chế linh hoạt, chủ động sẽ là tiền đề để hình thành các không gian tăng trưởng mới. Cải cách thể chế chính là chìa khóa vàng để giải phóng nguồn lực, tối ưu hóa chi phí cho doanh nghiệp và tạo đòn bẩy vững chắc cho nền kinh tế bứt phá trong kỷ nguyên mới.

00-15-3.jpg

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng để tạo động lực bứt phá

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Sơn, Phó hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Trưởng khoa Kế hoạch phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân

Để đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đến năm 2045, Việt Nam phải chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng cốt lõi, từ đó kiến tạo nên những giá trị đặc thù và thương hiệu mang dấu ấn riêng, tương tự con đường thành công của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore hay Hồng Kông. Trước yêu cầu cấp thiết phải cụ thể hóa các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, định hướng chiến lược thành giá trị gia tăng thực tế, mô hình tăng trưởng giai đoạn tới cần tập trung triển khai đồng bộ các yếu tố then chốt.

Trước hết, quốc gia phải định hình tầm nhìn dài hạn, củng cố năng lực trung tâm nhằm giải phóng nguồn lực nội địa và đón đầu các xu hướng toàn cầu. Song song với đó là thúc đẩy sự tự chủ, tích hợp và liên kết chặt chẽ giữa một bộ máy chính quyền chuyên nghiệp, dựa trên pháp quyền với khu vực doanh nghiệp và công nghệ. Về mặt điều hành, việc ban hành chính sách công nghiệp có trọng tâm phải đi liền với kỷ luật hiệu quả, thông qua các cơ chế hỗ trợ có điều kiện như tín dụng, ưu tiên mua sắm công cho doanh nghiệp tư nhân trong nước và thiết lập hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng.

Đồng thời, sự bứt phá này đòi hỏi quá trình đầu tư toàn diện cho nguồn nhân lực cùng năng lực nghiên cứu, phát triển; kết hợp với việc hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật số (AI, IoT, dữ liệu đám mây) và tối ưu hóa tài chính phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. Bên cạnh đó, Việt Nam kiên định chiến lược thu hút FDI gắn liền với chuyển giao và nâng cấp doanh nghiệp nội địa.

00-15-4.jpg

Tái cơ cấu toàn diện, khắc phục tình trạng lệch pha

PGS. TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Thực tế cho thấy, tăng trưởng GDP dù đạt mức cao, nhưng thu nhập thực tế của người dân vẫn chậm cải thiện do phần lớn giá trị gia tăng thuộc về khu vực FDI, trong khi khối doanh nghiệp nội địa phải đối mặt với khó khăn kéo dài.

Để khắc phục sự lệch pha này, Việt Nam phải thực hiện một cuộc tái cơ cấu kinh tế toàn diện, kiên quyết thoát khỏi mô hình truyền thống dựa vào khai thác tài nguyên hay gia công lắp ráp để chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao, kinh tế số và kinh tế xanh.

Bên cạnh đó, tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thể chế không đơn thuần là sửa chữa hay tháo gỡ vụn vặt, mà là cải cách đồng bộ nhằm tạo ra một khung khổ pháp lý hiện đại, mở đường cho lực lượng sản xuất mới phát triển và nâng cao năng lực tự chủ, có chiến lược phù hợp khi tham gia vào các không gian hội nhập sâu rộng hơn như các trung tâm tài chính hay khu kinh tế tự do.

Quan trọng hơn cả, hạt nhân của mô hình tăng trưởng mới nằm ở sự chuyển dịch thời đại từ lao động chân tay sang lao động trí óc. Nếu nền kinh tế vẫn bị trói buộc vào tư duy phân bổ đất đai hay đầu cơ tài sản ngắn hạn, năng lực sáng tạo quốc gia sẽ bị triệt tiêu. Khoa học công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực quyết định khi con người trí tuệ được coi là tài sản quý giá nhất, đi kèm với một môi trường thể chế tự do sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng. Việc tiếp cận các công nghệ tiên tiến không dừng ở tư duy tiêu dùng thụ động hay bắt chước, mà phải được định hướng ngay từ công cuộc giáo dục để người Việt Nam làm chủ công nghệ, từ đó tạo ra những giá trị vượt trội, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu bứt phá trong kỷ nguyên mới.

00-15-5.jpg

Động lực từ năng suất và sức mạnh công nghệ

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV

Kinh nghiệm quốc tế cùng thực tiễn phát triển của Việt Nam đã khẳng định một quy luật tất yếu: không một quốc gia nào có thể duy trì đà tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn nếu phụ thuộc vào việc mở rộng vốn đầu tư và nguồn lao động giá rẻ. Dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đang thu hẹp, đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình phát triển lấy năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực cốt lõi. Dù thời gian qua, tăng trưởng của Việt Nam vẫn dựa khá nhiều vào các yếu tố đầu vào truyền thống, mục tiêu đặt ra cho giai đoạn tới là nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) lên khoảng 53 - 55% trong tăng trưởng GDP. Đây không chỉ là định hướng xuyên suốt trong các nghị quyết của Đảng, mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này, Việt Nam cần triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp lớn mang tính đột phá. Trước hết là thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó tập trung ứng dụng AI và khai thác dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới của nền kinh tế. Song hành với công nghệ là việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặt con người vào vị trí trung tâm nhằm quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn. Cùng với đó, việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại - từ giao thông, năng lượng cho đến hạ tầng số - sẽ tạo tiền đề vững chắc đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Ở góc độ quản trị, tiếp tục cải cách thể chế kinh tế là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ mới. Cuối cùng, trong bối cảnh nguồn lực phát triển luôn có giới hạn, vấn đề cốt lõi là phải nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao nhất.

00-15-6.jpg

Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ các trụ cột chiến lược

Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào

Việc Việt Nam chính thức bước vào nhóm thu nhập trung bình cao là cột mốc lịch sử, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ qua nhiều thập kỷ cải cách bền bỉ và tăng trưởng kinh tế vững chắc. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điểm khởi đầu cho một hành trình khó khăn hơn nhằm hiện thực hóa khát vọng trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045.

Bước sang giai đoạn mới, bản chất của thách thức đã thay đổi hoàn toàn. Tăng trưởng không còn dừng lại ở quy mô hay tốc độ dựa vào vốn và xuất khẩu thô, mà phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng, năng suất và đổi mới sáng tạo. Để giải mã bài toán “bẫy thu nhập trung bình” - điều mà từ năm 1990 đến nay chỉ có 27 nền kinh tế vượt qua thành công - Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ các trụ cột chiến lược. Trước hết, cần thu hẹp khoảng cách giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa, tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh đó, tư duy đầu tư công cần đổi mới từ mục tiêu “giải ngân nhanh” sang “tạo tác động thực sự”, sử dụng vốn nhà nước làm đòn bẩy kích hoạt nguồn lực tư nhân vào phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng và kỹ thuật số. Đồng thời, việc tiếp tục cải cách thị trường vốn sẽ giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn cho các lĩnh vực tiềm năng, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Động lực phát triển lâu dài phải dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, sự ứng dụng công nghệ và một cam kết cải cách thể chế đồng bộ từ mọi cấp chính quyền. Việc chủ động kết hợp nội lực tự cường cùng tri thức toàn cầu sẽ là chìa khóa giúp Việt Nam vững bước gia nhập khối các quốc gia phát triển.

00-15-7.jpg

Vấn đề mấu chốt đặt ra là chất lượng và tính bền vững của sự phát triển

Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng trong nửa đầu năm 2026 với mức tăng GDP đạt 8,18%, riêng quý II vượt lên mốc 8,39%. Kết quả này không chỉ vượt xa các dự báo trước đó của ADB mà còn phản ánh rõ nét sức chống chịu bền bỉ của nền kinh tế nội địa trước những “cơn gió ngược” từ bối cảnh toàn cầu. Động lực đằng sau sự bứt phá là sự bùng nổ của ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, cùng sự phục hồi mạnh mẽ từ nhu cầu nội địa. Bên cạnh đó, các trụ cột quan trọng như xuất khẩu, dòng vốn FDI và tiến độ giải ngân đầu tư công đều đóng góp tích cực vào bức tranh chung.

Tuy nhiên, bên cạnh những số liệu tăng trưởng đầy hứa hẹn, vấn đề mấu chốt đặt ra cho giai đoạn tiếp theo chính là chất lượng và tính bền vững của sự phát triển. Tăng trưởng cao trong ngắn hạn là tín hiệu rất đáng khích lệ, nhưng chỉ có duy trì đà tăng trưởng liên tục, ổn định qua nhiều năm mới tạo ra nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và duy trì vị thế cạnh tranh dài hạn, Việt Nam phải từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên sang mô hình dựa trên hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng suất lao động, kỹ năng và đổi mới sáng tạo. Trong tiến trình này, khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò thiết yếu đối với xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm. Theo chúng tôi, định hướng phát triển không phải là giảm quy mô FDI, mà là nâng cao nội lực cho khu vực tư nhân trong nước. Việc tăng cường năng lực hấp thụ công nghệ và tri thức từ các tập đoàn nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó tạo ra động lực nội sinh cho toàn bộ nền kinh tế.

Kết nối đầu tư