“Đòn bẩy” vực dậy ngành vật liệu - cơ khí chế tạo

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, điện hạt nhân, trung tâm dữ liệu, điện gió ngoài khơi… đang mở ra thị trường hàng chục tỷ USD cho ngành vật liệu và cơ khí chế tạo. Nhưng nếu thiếu cơ chế đặt hàng, tiêu chuẩn thống nhất và quy định nội địa hóa đủ mạnh thì cơ hội vàng để hình thành các “Toyota” hay “Samsung” phiên bản Việt trong lĩnh vực công nghiệp nền tảng có thể tiếp tục bị bỏ lỡ.

Các chuyên gia kiến nghị dùng mua sắm công như một đòn bẩy chiến lược nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho ngành công nghiệp chế tạo. Ảnh: An Chi
Các chuyên gia kiến nghị dùng mua sắm công như một đòn bẩy chiến lược nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho ngành công nghiệp chế tạo. Ảnh: An Chi

Thời cơ vàng nhưng chưa thấy đơn hàng thực tế

Chưa bao giờ ngành công nghiệp vật liệu và cơ khí - chế tạo Việt Nam đứng trước một “cầu thị trường” lớn như hiện nay. Theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các dự án chiến lược quốc gia trong giai đoạn tới sẽ tạo ra nhu cầu khổng lồ về vật liệu, linh kiện, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật, giúp hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Việt Nam bứt phá để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Không chỉ là một công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia, Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam còn được kỳ vọng trở thành “cỗ máy kéo” cho hàng loạt ngành công nghiệp nền tảng phát triển. Từ ray thép, toa xe, hệ thống tín hiệu, hệ thống điện… cho đến các giải pháp tự động hoá, tất cả đều tạo ra thị trường có giá trị hàng chục tỷ USD.

Tương tự, các dự án điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, trung tâm dữ liệu, công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đòi hỏi khối lượng lớn vật liệu kỹ thuật cao, thiết bị cơ khí chính xác, hệ thống làm mát, vật liệu chịu nhiệt đặc chủng, linh kiện chuyên dụng. Công nghiệp bán dẫn và AI mở ra dư địa cho CNHT ở các công đoạn phụ trợ như: vỏ bọc, hệ thống làm mát, thiết bị kiểm tra, bao bì, dịch vụ hậu cần kỹ thuật. Đây là những lĩnh vực mà DN Việt Nam hoàn toàn có khả năng tham gia, nếu được định hướng đúng.

Dù thị trường tương lai rất lớn, nhưng thực tế hiện nay, nhiều DN trong nước lại chưa nhìn thấy “đơn hàng” thực sự để mạnh dạn đầu tư.

Tại Hội thảo do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (KHCN&MT) tổ chức ngày 15/6, đại diện Tập đoàn Hòa Phát xác nhận, đến nay, DN vẫn chưa nhận được bất kỳ đề nghị đặt hàng hoặc yêu cầu triển khai chính thức nào từ các chủ đầu tư như MRB, MAUR, các đơn vị tư vấn và tổng thầu liên quan đến các dự án đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao.

Nguyên nhân là do Nghị định số 04/2026/NĐCP về cơ chế đặt hàng sản phẩm công nghiệp đường sắt đã được ban hành nhưng thiếu hướng dẫn thực thi cụ thể về quy trình, tiêu chí đánh giá và cơ chế phê duyệt. Điều này khiến các chủ đầu tư lúng túng khi áp dụng trong quá trình lập dự án đấu thầu và quản lý vốn đầu tư công.

Không chỉ vậy, các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm triển khai theo hình thức PPP, BT, hiện cũng chưa có cơ chế ràng buộc hoặc khuyến khích sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước. DN Việt có nguy cơ đứng ngoài cuộc chơi, gây lãng phí nguồn lực đầu tư và làm chậm quá trình tự chủ công nghệ quốc gia.

Một điểm nghẽn khác là Việt Nam hiện chưa có một bộ tiêu chuẩn chung, thống nhất cho đường sắt đô thị (metro) và đường sắt tốc độ cao. Mỗi dự án lại áp dụng một tiêu chuẩn công nghệ riêng và hệ thống vật tư khác nhau, khiến các DN sản xuất trong nước như Hòa Phát phải đầu tư nhiều lần để đáp ứng yêu cầu khác nhau, làm tăng chi phí và thời gian để hợp chuẩn, hợp quy cho từng dự án riêng biệt, làm giảm hiệu quả sản xuất quy mô lớn.

Trong khi đó, nhiều ngành công nghiệp chủ lực vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu. Ngành đóng tàu là một ví dụ điển hình. TS. Phạm Hoài Chung - Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) cho biết, dù ngành đóng tàu đã sở hữu hạ tầng nâng hạ thủy tàu hàng nghìn DWT, nhưng tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt khoảng 30 - 40%. DN Việt mới chỉ tham gia mạnh ở các khâu chế tạo thân vỏ, gia công kết cấu và lắp ráp sản phẩm, còn các thiết bị công nghệ cao và vật liệu chuyên dụng - thường chiếm khoảng 50 - 70% giá trị con tàu - vẫn chủ yếu phải nhập khẩu.

Theo đánh giá của VCCI, CNHT Việt Nam đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn lớn, gồm: năng lực công nghệ và nghiên cứu khoa học (R&D) nội địa còn yếu, phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, thiếu liên kết thực chất DN FDI, thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao và quản trị sản xuất chuyên nghiệp, thông tin và tiếp cận thị trường, chuỗi cung ứng.

Ông Nguyễn Thanh Hải - Chủ nhiệm Uỷ ban KHCN&MT cho rằng, Việt Nam còn ít nhất 6 điểm nghẽn chiến lược. Đó là nhận thức về vai trò của công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chưa thực sự tương xứng với vai trò là ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp gốc; thiếu chiến lược tổng thể mang tính quốc gia; thiếu cơ chế đủ mạnh để hình thành các DN đầu đàn; thiếu nhân lực chất lượng cao; hoạt động R&D còn yếu; khoảng cách lớn giữa nghiên cứu với thị trường.

Mua sắm công là đòn bẩy phát triển công nghiệp

Các chuyên gia cho rằng, vấn đề hiện nay không nằm ở chỗ DN Việt có muốn đầu tư hay không, mà nằm ở việc họ chưa nhìn thấy thị trường đủ rõ để mạnh dạn đầu tư dài hạn. Đây cũng chính là lý do mà hiện có nhiều kiến nghị tập trung vào việc sử dụng mua sắm công như một công cụ phát triển công nghiệp.

VCCI đề xuất xây dựng Chương trình quốc gia phát triển nhà cung cấp Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó quy định tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu đối với các gói thầu có sử dụng ngân sách nhà nước. Đây được xem là cơ chế tạo thị trường hiệu quả nhất cho CNHT trong nước.

Song song với đó là cơ chế đặt hàng đối với sản phẩm công nghiệp chiến lược; tín dụng ưu đãi cho DN đầu tư máy móc, công nghệ (dựa trên dòng tiền tương lai và đơn hàng xác nhận thay vì phải có tài sản thế chấp); hỗ trợ lãi suất 3 - 5%/năm cho các dự án đầu tư công nghệ phục vụ chuyển đổi số và tự động hóa; miễn giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị công nghệ cao chưa sản xuất được trong nước; cho phép khấu hao nhanh đối với máy móc phục vụ CNHT.

Đại diện Tập đoàn Hòa Phát cũng đề xuất áp dụng cơ chế giao nhiệm vụ hoặc chỉ định thầu đối với những sản phẩm công nghiệp đường sắt mà DN trong nước đã làm chủ công nghệ như ray đường sắt, bộ kẹp ray, ghi đường sắt… Đồng thời, cần bổ sung quy định về tỷ lệ sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước tại các dự án PPP, BT như là điều kiện tiên quyết để giao dự án, giao quỹ đất. Nhanh chóng ban hành hướng dẫn chi tiết về cơ chế đặt hàng để làm cơ sở cho các đơn vị tư vấn, tổng thầu nghiên cứu đưa vào phương án thiết kế, danh mục mua sắm của từng dự án đang chuẩn bị đấu thầu; hệ thống tiêu chuẩn đồng bộ đối với các dự án metro, đường sắt quốc gia sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn ODA theo hướng giao nhiệm vụ.

Kết nối đầu tư