|
| Cần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia. Ảnh: Xuân Yến |
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị trung ương 2 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công, vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030 yêu cầu phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức, phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của Ngân hàng Chính sách xã hội. Mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, ông Hiển cho biết, đến ngày 16/6/2026, tín dụng ngân hàng đang có dư nợ khoảng 19,8 triệu tỷ đồng, tăng 6,41% so với cùng kỳ năm trước, nhưng huy động chỉ tăng 4,45%. Trong khi đó, huy động trái phiếu chính phủ từ đầu năm đến nay mới đạt khoảng 35,6% kế hoạch. Tính đến ngày 17/6/2026, mới huy động trái phiếu doanh nghiệp khoảng 178,2 nghìn tỷ đồng. Theo ông Hiển, đây là vấn đề cần xem xét thấu đáo.
Từ góc độ ngân hàng, ông Nguyễn Ngọc Cảnh - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khẳng định, Ngân hàng Nhà nước cam kết bảo đảm đủ vốn cho nền kinh tế, tạo động lực tăng trưởng 2 con số.
Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, với vai trò dẫn dắt nguồn vốn của nền kinh tế, ngành Ngân hàng luôn sẵn sàng đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong quá trình triển khai các mục tiêu đã được Đảng và Nhà nước đề ra, đồng thời không ngừng cải cách, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cơ chế, chính sách tiền tệ - tín dụng nhằm gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách vĩ mô khác, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường kinh doanh ổn định, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp. Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần chỉ đạo các ngân hàng thương mại giảm lãi suất, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.
Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng luôn sẵn sàng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay và các dịch vụ ngân hàng an toàn, hiện đại thông qua nhiều giải pháp. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp triển khai các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Kết quả, đến cuối tháng 6/2026, tín dụng đối với nền kinh tế đã vượt mốc 19,9 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025. Riêng tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, chiếm 92,6% dư nợ toàn nền kinh tế.
Theo Phó Thống đốc, mức tăng trưởng tín dụng nêu trên cho thấy sự nỗ lực từ ngành Ngân hàng để bảo đảm nguồn lực cho doanh nghiệp nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng tham gia phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhu cầu vốn cho tăng trưởng là rất lớn, đặc biệt nhu cầu vốn trung, dài hạn thực hiện các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, đây là một trong những áp lực không nhỏ cho hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, việc mở rộng tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng còn gặp khó khăn do sức chống chịu, năng lực tài chính và quản trị của doanh nghiệp còn hạn chế, thị trường tiêu thụ chưa phục hồi đồng đều, chi phí sản xuất còn cao, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Do đó, Phó Thống đốc nhấn mạnh đề xuất cần đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững, nhằm tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; cùng với đó là đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia (kết hợp nhiều nguồn lực như ngân sách nhà nước, vốn tư nhân, hợp tác công - tư, nguồn vốn nước ngoài và các nguồn vốn dài hạn khác).