Cải cách thể chế: Đưa tiếng nói thực tiễn doanh nghiệp vào trung tâm lập pháp

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Không có gì làm xói mòn niềm tin đầu tư bằng một khung pháp lý thay đổi liên tục và khó lường. Doanh nghiệp không sợ thị trường cạnh tranh, họ chỉ sợ khoảng cách giữa văn bản và thực thi quá xa nhau.

Cải cách thể chế: Đưa tiếng nói thực tiễn doanh nghiệp vào trung tâm lập pháp

Thông điệp cốt lõi này được TS. Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chia sẻ tại buổi làm việc với Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội ngày 15/6/2026, phản ánh sự kỳ vọng của hơn 1 triệu doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện nay.

Nền kinh tế tư nhân Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi chưa từng có tiền lệ, khi hội tụ đồng thời ba luồng cải cách lớn: cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy gắn với việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố và vận hành mô hình chính quyền hai cấp từ ngày 1/7/2025; sự dịch chuyển triết lý lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển, từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; và việc thể chế hóa mạnh mẽ Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị, trong đó khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, với mục tiêu đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.

Thế nhưng, ngay trên nền bức tranh cải cách đầy hứng khởi ấy, những “cơn bão” từ xung đột địa chính trị toàn cầu và những rào cản nội tại tích tụ nhiều năm đang tạo ra sức ép kép đè nặng lên vai các doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng hộ kinh doanh là nhóm dễ tổn thương nhất. Rủi ro lớn nhất cho cả năm 2026 là tăng trưởng doanh thu không theo kịp tốc độ tăng chi phí, dẫn tới suy giảm lợi nhuận, dòng tiền và năng lực duy trì việc làm.

Theo VCCI, khu vực tư nhân dù mở rộng nhanh về số lượng - từ khoảng 811 nghìn doanh nghiệp hoạt động năm 2020 lên hơn 1 triệu vào năm 2025, chiếm 96,6% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và tạo 9,27 triệu việc làm, nhưng sức khoẻ nội tại vẫn chưa thực sự được cải thiện. Đặc trưng bao trùm vẫn là tình trạng “đông nhưng nhỏ”.

Cụ thể, gần 70% doanh nghiệp ngoài Nhà nước có vốn dưới 10 tỷ đồng. 81,4% sử dụng dưới 10 lao động. Vốn bình quân chỉ đạt ở mức khiêm tốn khoảng 49,2 tỷ đồng, thấp xa so với doanh nghiệp FDI (496 tỷ đồng) và doanh nghiệp Nhà nước (7.030,9 tỷ đồng). Hiệu quả sinh lời thấp và phân bố không đồng đều, với tỷ suất lợi nhuận chỉ khoảng 1,4% năm 2023 và mật độ doanh nghiệp chênh lệch rõ rệt giữa các đô thị lớn như TP.HCM, TP. Hà Nội với nhiều tỉnh miền núi. Năng lực đổi mới sáng tạo, công nghệ và quản trị còn ở mức thấp khi so sánh khu vực: chỉ 7,5% doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới trong 3 năm, 37,9% sử dụng ít nhất một công nghệ số và tới 92,6% doanh nghiệp có chủ sở hữu lớn nhất đồng thời là người quản lý cao nhất, phản ánh phương thức vận hành mang tính phản ứng hơn là định hướng chiến lược.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phiên bản 2.0 (PCI 2025) từ 3.546 doanh nghiệp cho thấy, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp đã dịch chuyển mạnh sang thị trường đầu ra, khi tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn tìm kiếm khách hàng tăng vọt từ 45,3% lên 60,2%, tương đương giai đoạn căng thẳng nhất của thời kỳ đại dịch, kéo theo tâm lý phòng thủ chiếm ưu thế với 54,8% doanh nghiệp dự kiến giữ nguyên quy mô. Tiếp cận vốn tiếp tục là điểm nghẽn cốt lõi mang tính cấu trúc: 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm, và tới 93,5% khoản vay yêu cầu thế chấp, cao hơn nhiều so với Malaysia và Thái Lan. Khả năng dự đoán chính sách còn rất hạn chế khi chỉ 6 - 8% doanh nghiệp tự tin dự báo được thay đổi, trong khi chi phí không chính thức vẫn là gánh nặng đáng kể, đặc biệt ở các khâu xin giấy phép xây dựng, nhập khẩu và làm việc với cơ quan thuế.

Đối với khu vực hộ kinh doanh (khoảng 6,1 triệu hộ tạo việc làm cho 10 triệu lao động), sức chống chịu đang suy yếu rõ rệt khi 81,5% bị giảm doanh thu trong năm 2025 và đang gặp rào cản tâm lý lớn về thủ tục pháp lý.

Tình hình càng trở nên thách thức hơn khi từ đầu tháng 3/2026, cộng đồng doanh nghiệp phải hứng chịu thêm cú sốc đột biến từ xung đột Trung Đông. Giá dầu diesel có thời điểm tăng gần 300%, giá xăng, gas, vật liệu xây dựng, hóa chất và phân bón đồng loạt leo thang, kèm theo khan hiếm nguyên liệu cục bộ và kéo dài thời gian nhập khẩu. Chi phí logistics quốc tế tăng gấp 2 - 3 lần với phụ phí rủi ro chiến tranh lớn, trong khi 53,5% doanh nghiệp sản xuất bị giảm đơn hàng xuất khẩu và sức mua nội địa suy giảm rõ rệt. Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 9 - 13% mỗi năm cùng việc siết chặt giải ngân đã tạo thêm áp lực, làm xuất hiện xu hướng giải thể, tạm ngưng hoặc rút về kinh doanh tự do không đăng ký, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Mặc dù đến tháng 6/2026 đã có tín hiệu hạ nhiệt nhờ các chính sách điều chỉnh thuế, phí xăng dầu, nhưng tác động tiêu cực do độ trễ chi phí và hợp đồng vẫn còn hiện hữu. Rủi ro lớn nhất cho cả năm 2026 là tăng trưởng doanh thu không theo kịp tốc độ tăng chi phí, dẫn tới suy giảm lợi nhuận, dòng tiền và năng lực duy trì việc làm của doanh nghiệp.

VCCI kiến nghị 5 nhóm giải pháp gồm: hỗ trợ tài chính và tín dụng linh hoạt, đẩy nhanh thể chế hóa cho vay dựa trên dòng tiền theo Nghị quyết 68-NQ/TW; cải cách môi trường tuân thủ thuế, kế toán và hóa đơn điện tử phù hợp năng lực hộ siêu nhỏ; chuyển chính sách hỗ trợ hộ chuyển đổi từ vận động đại trà sang cách tiếp cận phân tầng; ứng phó cú sốc ngắn hạn bằng tháo gỡ logistics, đa dạng hóa thị trường và tăng cường ngoại giao kinh tế trước rủi ro điều tra theo Mục 301 của Hoa Kỳ; và về dài hạn, dịch chuyển trọng tâm cải cách sang kiến tạo, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và nâng cao chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp.

Mặc dù Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực gỡ vướng cho quy trình thực hiện dự án đầu tư thông qua việc sửa đồng loạt các đạo luật cốt lõi như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quy hoạch, đồng thời tạo cơ chế đặc biệt qua Nghị quyết 206/2025/QH15 làm tiền đề cho 19 nghị quyết gỡ vướng, trong đó các Nghị quyết 66.1 đến 66.4 đã tháo nút thắt về quy hoạch và đất đai. Tuy vậy, VCCI đánh giá, hệ thống thể chế hiện vẫn tồn tại những rào cản nghiêm trọng, mà cốt lõi không chỉ là sự chậm trễ kỹ thuật mà phản ánh hạn chế về năng lực thực thi và phối hợp điều hành của bộ máy chính quyền địa phương.

Trong đó, quy hoạch tuy được coi là “kim chỉ nam” nhưng lại đang là rào cản lớn nhất khiến dự án tắc nghẽn ngay từ đầu, với tình trạng phê duyệt chậm trễ, mâu thuẫn giữa các cấp và loại quy hoạch, cùng hệ quả từ việc sáp nhập và cập nhật dữ liệu địa chính chậm. Khâu giải phóng mặt bằng và giao đất phát sinh nhiều xung đột lợi ích do sự phối hợp thiếu hiệu quả; việc áp dụng pháp luật thiếu linh hoạt khi nhiều cơ quan yêu cầu giải phóng xong 100% diện tích mới giao đất thay vì cho phép triển khai cuốn chiếu. Đặc biệt, việc chậm phê duyệt giá đất cụ thể được xem là nút thắt phổ biến nhất hiện nay.

Thủ tục hành chính thường kéo dài hơn quy định do sự “im lặng” và đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan giải quyết sau khi sắp xếp bộ máy.

Ngay trong các văn bản mới ban hành đã xuất hiện những quy định chưa thống nhất, mâu thuẫn và thiếu rõ ràng. Điển hình như quy định gia hạn dự án đầu tư và gia hạn thời gian sử dụng đất giữa Luật Đất đai 2024 (6 tháng) và Nghị định 96/2026/NĐ-CP (12 tháng). Thủ tục đầu tư trực tuyến chưa thực sự thuận lợi khi phải nộp hồ sơ tại hai cổng khác nhau và vẫn buộc đối chiếu bản giấy.

Khảo sát đầu năm 2026 của VCCI cũng chỉ ra khoảng cách giữa văn bản và thực tiễn. 33,33% doanh nghiệp phản ánh thời gian thực hiện thủ tục bị kéo dài, 38,18% vẫn phải chi trả chi phí không chính thức và 24,04% buộc phải hủy bỏ hoặc trì hoãn kế hoạch kinh doanh.

Từ thực trạng này, VCCI kiến nghị với Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về 5 định hướng cải cách lớn, trong đó, nhấn mạnh việc dịch chuyển trọng tâm từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên nền dữ liệu số; nâng cao chất lượng thay vì “đếm số lượng” cải cách và tập trung chỉnh đốn khâu thực thi từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là bộ phận một cửa.

Kết nối đầu tư