|
Trên mặt tấm gỗ xù xì được thai sinh thành chiếc bàn, hai chén trà thơm ngát vị ngọt, thanh mảnh làn khói nhẹ tỏa lảng bảng trong phòng vẽ nhỏ. Đó là thứ trà ngon ai đó tặng họa sĩ, được ủ trong ấm đất tử sa và thầy trò nhẩn nha thưởng thức. Căn phòng ngập tràn tranh ngựa... Ngựa tung vó như xé tan khoảng lặng không gian, xóa mờ ranh giới thời gian, tưởng đưa tâm hồn ai đó đến chốn vô tận. Ngựa trên những nền toan vải trắng muốt, nền giấy dó thô ráp với sắc đỏ, đen, trắng, hồng… rực rỡ, bay bổng vút lên khung trời mờ ảo, oai hùng dũng mãnh, bỏ sau những mưa gió ào ạt, phong ba cuồng thịnh. Ngựa đan xen, ẩn mình giữa chập chùng sen, lau sậy; ngựa khoác lên mình chuông bạc, đai vàng… Trong tầm thị giác xa gần, bố cục và sắc màu vừa hiện hữu vừa là ảo ảnh. Vạn vật khác tan mờ, chỉ chập chùng vó ngựa.
Họa sĩ Lê Trí Dũng vẽ nhiều đề tài, thể loại, nhưng phiêu linh, đắm say với hình tượng ngựa. Ông diễn tả ngựa không đơn thuần ở hình, khối, đơn sắc hay đa sắc mà còn khéo léo dẫn dắt, mê hoặc kẻ thưởng ngoạn cho họ thấy được rất nhiều tầng cảm xúc với vô vàn ý nghĩa tích cực. Ngựa thật sự đã được họa sĩ suy tôn theo khí phách của một hào hoa quân tử, yêng hùng mà không kiêu ngạo; mạnh mẽ, dứt khoát nhưng cũng nhân ái, bao dung; dũng mãnh, kiên cường nhưng lại mềm mại, đa đoan…
Họa sĩ Lê Trí Dũng sinh năm 1949, tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1972. Cha ông là họa sĩ Lê Quốc Lộc, được coi là bậc thầy về sơn mài Việt Nam, người từng dẫn dắt nhiều thế hệ sinh viên mỹ thuật Việt Nam thành danh. Ông là người hiền từ nhưng cũng nghiêm khắc và cẩn trọng trong nghề, trong cách dạy trò, dạy con. Họa sĩ Lê Trí Dũng tiếp nối truyền thống gia đình, sớm thể hiện thiên bẩm trong những nét bút hào hoa, bay bổng. Tính cách riêng biệt bộc trực, thẳng thắn trước những đúng - sai cuộc đời như khớp nối với hình tượng ngựa mà ông tâm huyết lựa chọn.
Nhiều người suy tôn sự thành công của Lê Trí Dũng với danh hiệu họa sĩ vẽ ngựa đẹp nhất Việt Nam. Ông thành công vì đã tạo ra những tác phẩm không bị bó buộc bởi bất cứ thứ gì; phồn hoa, danh lợi chưa bao giờ là vòng dây kìm kẹp thân tâm...
Từng là người lính thuộc thế hệ “xếp bút nghiên ra trận”, trải qua những ngày tháng khốc liệt tại chiến trường Quảng Trị, từng có mặt trong Đại đội 4, Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập, Lê Trí Dũng trở về cuộc sống đời thường, cầm cọ vẽ với niềm tự hào về một thời hoa lửa, những ký ức nhói buốt về tình đồng đội. Ông vốn kiệm lời, hiếm khi la cà với men rượu nồng, chỉ thi thoảng bắt gặp ông dành thời gian vui buồn bên những ly trà, món cháo đậu ở sân khu tập thể gần nhà. Ông có tình thương đặc biệt cho những đứa trò ham học. Những câu chuyện ông kể cho chúng tôi về “Bóng ngựa qua cửa sổ”, “Đường dài mới hay sức ngựa”, “Ngựa nào gác được hai yên”... vẫn là ký ức khó phai. Ông lý giải, ngựa xứng đáng được tôn vinh, bởi ngựa tập trung nhiều phẩm chất tích cực, là biểu tượng may mắn, phúc lành, sự mạnh mẽ, trung thành...
Ông sáng tác và thể hiện tác phẩm trên con đường lặng lẽ, đôi lúc tưởng chừng cô liêu, tựa một bóng ngựa Xích Thố đang buông mình tĩnh lặng bên sông, trên là ánh trăng, dưới lặng lẽ nước trôi… trong chính tác phẩm của mình. Đó không phải là tự cao tách biệt với phức tạp nhân gian, giản đơn là sự trọn vẹn cho nghệ thuật. Ngựa ông vẽ đa phần cuộn trào như sóng, bay lượn như gió, phong ba… Ông tạo ra cái động từ tâm tĩnh lặng, có lẽ vì thế dáng ngựa trong tranh Lê Trí Dũng không giống phong cách nghệ thuật thông thường. Ông tự bạch: “Một người một ngựa một đơn thương/Một trái tim hồng một vấn vương/Một manh áo cũ vầng trăng cũ/Một con đường cũ một sa trường”.
Từ ngựa, ông như viết lại huyền sử và chính sử; diễn tả văn học, tục ngữ, ca dao; đời sống tâm linh, địa danh... Ông minh chứng một cách phóng khoáng nhưng chi tiết về tính cách tốt đẹp của loài vật đặc biệt này. Qua Xích Thố, Bạch Long Câu, Xích Kỳ, Hồng Lư... để mô tả hình tượng trung kiên theo chân binh tướng kiên cường xông pha trận mạc; sâu thẳm hơn không chỉ ở chiến thắng oai hùng mà ẩn sau đó là cả bước câu nhẹ nhàng trong sự thanh bình nơi xóm làng, thành thị tràn đầy khát vọng hòa bình của Thiên Mã, Bạch Kỳ khoác đai vàng, choàng lụa mềm, sen… thật nhẹ nhàng, đằm thắm.
Ngựa ông vẽ còn mang ý thơ, câu chuyện văn học, tính dân tộc… Bức “Quân doanh Từ Công” với hình ảnh Từ Hải oai phong, Thúy Kiều và cây đàn tì bà, sau lưng hai người là bóng ngựa… được một nhà sưu tập người Mỹ say mê chọn mua. Bức “Đạp cỏ tầm trăng” trên toan khắc họa ngựa khoác yên gấm, đai vàng, bức “Đám mây nâu” vẽ ngựa ô bằng mực nho trên giấy dó và nhiều tác phẩm nữa luôn là mơ ước sở hữu của nhiều nhà sưu tập.
Người tìm đến tranh ngựa, ông kỳ vọng họ tinh ý về thông điệp, nội dung tích cực từ ngựa, cảm nhận được nội dung văn hóa ẩn chứa. Bởi thế, tranh quý nhưng cũng không ít lần ông gói cẩn trọng với nét bút ký tặng đến người tri kỷ.
Chiều giáp Xuân tôi như tỉnh giác, ngựa không dừng lại ở một biểu tượng chuyển tiếp, trong khoảng đo thời gian có hạn của hệ can chi năm, tháng, hoặc khoảnh khắc ngắn “chính ngọ” lúc ánh sáng mặt trời rực rỡ nhất trong ngày, mà thứ ánh sáng đó trong tranh của họa sĩ như được kéo dài đến bất tận…
Xuân Bính Ngọ, giữa muôn sắc đào rực đỏ, họa sĩ Lê Trí Dũng phác những nét bút mới, dáng ngựa lại tung vó trên nền toan, xuyến chỉ… Mỗi bức tranh như một bản trường ca đầy kiêu hãnh về sức mạnh và khát vọng tự do.
Ngựa trong nét bút tài hoa của họa sĩ Lê Trí Dũng hiện hữu nhiều nơi, và để lại ở đó bản sắc văn hóa truyền thống; khí chất nghệ thuật, tài năng của người nghệ sĩ Việt. Chén trà cuối chia tay, chúc thầy với lời xưa cũ, mơ ước của trò về những bóng câu oai hùng hiên ngang tỏa sáng…, tôi chợt nhớ những câu nhà thơ Vũ Quần Phương viết tặng người họa sĩ: “Nghìn ngựa ào qua đầu ngọn bút/Thân chưa khô mực, đã đường xa/Ngựa ơi đồng đất người thiên hạ/Cỏ nuôi mày vẫn cỏ lòng ta”.