Hà Nội dự kiến đầu tư 2.000 tỷ đồng xây nhà hát 2.500 chỗ, thúc đẩy kinh tế sáng tạo
Hà Nội đang lên kế hoạch đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng để xây dựng một nhà hát quy mô lớn trên đường Võ Thị Sáu (phường Bạch Mai) trong giai đoạn 2026–2030. Công trình dự kiến có diện tích khoảng 9.000 m², sức chứa từ 2.000–2.500 chỗ ngồi, hướng tới trở thành thiết chế văn hóa hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và góp phần phát triển công nghiệp văn hóa.
Đây là một trong những dự án trọng điểm nằm trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Thành phố đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái văn hóa sáng tạo giàu bản sắc, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp biểu diễn trong bối cảnh hội nhập.
Hiện Hà Nội đang quản lý 6 nhà hát, tuy nhiên phần lớn đã được đầu tư từ hơn 20 năm trước, không còn đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sân khấu, âm thanh, ánh sáng cũng như quy mô không gian. Trong khi đó, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật chất lượng cao, đặc biệt từ nhóm khán giả trẻ, ngày càng gia tăng, tạo áp lực nâng cấp hạ tầng văn hóa.
Theo định hướng, nhà hát mới không chỉ phục vụ biểu diễn nghệ thuật mà còn được kỳ vọng trở thành biểu tượng kiến trúc mới của Thủ đô, góp phần nâng tầm hình ảnh Hà Nội như một điểm đến văn hóa – du lịch quốc tế. Dự án cũng mở ra dư địa phát triển các hoạt động kinh tế sáng tạo, dịch vụ giải trí và du lịch, qua đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đô thị.
Trong giai đoạn 2026–2030, Hà Nội dự kiến triển khai hơn 1.000 dự án văn hóa với tổng vốn trên 36.000 tỷ đồng, bao gồm cả ngân sách thành phố và cấp cơ sở. Bên cạnh nhà hát mới, thành phố cũng lên kế hoạch đầu tư các công trình quy mô lớn như trung tâm văn hóa 20.000 chỗ tại trục sông Hồng, phục dựng không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám và xây dựng các biểu tượng kiến trúc mới.
Việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng văn hóa được đánh giá là bước đi chiến lược nhằm chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào kinh tế sáng tạo, đồng thời nâng cao chất lượng sống và sức hấp dẫn của đô thị trong dài hạn.
Đề xuất tạm ngừng xuất cảnh với người chưa chấp hành xử phạt hành chính
Bộ Công an đang đề xuất bổ sung biện pháp tạm ngừng xuất cảnh đối với cá nhân và người đứng đầu tổ chức chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhằm tăng hiệu lực thực thi pháp luật và hạn chế tình trạng chây ì nộp phạt.
Theo hồ sơ thẩm định dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), thời hạn nộp phạt vẫn giữ nguyên là 10 ngày kể từ khi nhận quyết định xử phạt. Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo cho rằng các chế tài hiện hành chưa đủ mạnh, dẫn đến việc nhiều trường hợp không tự giác chấp hành, ảnh hưởng đến kỷ cương pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước.
Việc bổ sung biện pháp tạm ngừng xuất cảnh được kỳ vọng sẽ tạo sức răn đe rõ rệt, đặc biệt với các cá nhân, doanh nghiệp có điều kiện di chuyển quốc tế nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định. Đây cũng là công cụ cưỡng chế đã được áp dụng trong một số lĩnh vực như thuế, thi hành án dân sự và bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực.
Ở góc độ kinh tế, đề xuất này có thể góp phần giảm thất thu ngân sách từ các khoản xử phạt hành chính, đồng thời nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp trong các lĩnh vực như thuế, môi trường, xây dựng, giao thông. Khi kỷ luật thực thi được siết chặt, môi trường kinh doanh cũng trở nên minh bạch và công bằng hơn.
Tuy vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định rõ điều kiện, trình tự áp dụng biện pháp này để tránh lạm dụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Việc áp dụng cũng cần gắn với hệ thống dữ liệu quản lý đồng bộ, bảo đảm chính xác, tránh gây phiền hà trong hoạt động xuất nhập cảnh.
Dự thảo luật hiện đang trong quá trình lấy ý kiến và hoàn thiện, trước khi trình Quốc hội xem xét trong thời gian tới. Nếu được thông qua, quy định mới sẽ bổ sung thêm công cụ pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hành chính trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng.
Hàng công nghệ chiếm gần 38% xuất khẩu, tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng thương mại
Trong hai tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghệ – điện tử tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của xuất khẩu Việt Nam, khi đóng góp tới gần 38% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Theo số liệu từ Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 76,39 tỷ USD, trong đó riêng hai nhóm hàng chủ lực là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cùng điện thoại và linh kiện mang về 28,84 tỷ USD.
Đáng chú ý, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với kim ngạch 17,69 tỷ USD, chiếm khoảng 24% tổng xuất khẩu và tăng mạnh 40,9% so với cùng kỳ. Ở chiều thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm đến lớn nhất với 6,83 tỷ USD, tăng gần 58%, theo sau là Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Hồng Kông.
Trong khi đó, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 11,15 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ, dù riêng tháng 2 ghi nhận mức giảm nhẹ so với tháng trước. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất nhóm hàng này, tiếp đến là Hoa Kỳ và EU.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa trong 2 tháng đầu năm đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% và là mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn nhất với 29,87 tỷ USD, tương đương 37,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng tới 48,3% so với cùng kỳ.
Nguồn nhập khẩu chủ yếu đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản, phản ánh mức độ phụ thuộc cao của chuỗi sản xuất trong nước vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu.
Các chuyên gia đánh giá, sự tăng trưởng mạnh của nhóm hàng công nghệ cho thấy Việt Nam tiếp tục hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để nâng cao giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực sản xuất trong nước vẫn là yêu cầu cấp thiết trong thời gian tới.
Thanh Hóa kêu gọi 24 tỷ USD cho 173 dự án, “trải thảm đỏ” đón dòng vốn lớn
Thanh Hóa đang đẩy mạnh chiến lược thu hút đầu tư quy mô lớn khi công bố danh mục 173 dự án ưu tiên giai đoạn 2026–2030, với tổng vốn dự kiến lên tới khoảng 570.000 tỷ đồng (tương đương 24 tỷ USD). Thông tin được đưa ra trước thềm Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2026, dự kiến diễn ra ngày 28–29/3 với sự tham dự của khoảng 800 đại biểu trong và ngoài nước.
Tại sự kiện, tỉnh dự kiến trao quyết định chủ trương đầu tư cho 21 dự án và ký kết hợp tác với 4 nhà đầu tư chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng, hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và du lịch cao cấp.
Trong cơ cấu danh mục kêu gọi đầu tư, lĩnh vực hạ tầng và đô thị chiếm tỷ trọng lớn nhất với 52 dự án, tổng vốn hơn 303.000 tỷ đồng, nổi bật là các khu đô thị quy mô lớn. Lĩnh vực năng lượng – môi trường cũng ghi nhận 32 dự án với tổng vốn hơn 140.000 tỷ đồng, trong đó đáng chú ý là các dự án LNG tại Khu kinh tế Nghi Sơn.
Ở mảng công nghiệp chế biến chế tạo, Thanh Hóa ưu tiên 23 dự án thứ cấp trong các khu, cụm công nghiệp, hướng tới gia tăng giá trị sản xuất. Trong khi đó, lĩnh vực du lịch – dịch vụ có 7 dự án lớn, bao gồm các khu sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp như khu vực hồ Yên Mỹ.
Đáng chú ý, để tạo sức hút cạnh tranh, Thanh Hóa áp dụng nhiều chính sách ưu đãi vượt trội, đặc biệt tại Khu kinh tế Nghi Sơn như miễn tiền thuê đất tới 19 năm, thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm, cùng các ưu đãi miễn, giảm thuế kéo dài. Với các dự án đặc biệt, nhà đầu tư có thể được miễn tiền thuê đất trong toàn bộ thời gian thực hiện.
Ngoài ra, tỉnh còn triển khai các chính sách hỗ trợ hạ tầng, sản xuất công nghiệp và logistics, nhất là tại khu vực miền núi và các cụm công nghiệp.
Việc công bố danh mục dự án quy mô lớn cùng loạt ưu đãi mạnh tay cho thấy Thanh Hóa đang quyết liệt đón làn sóng dịch chuyển đầu tư, hướng tới trở thành cực tăng trưởng mới ở khu vực Bắc Trung Bộ, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Siết chặt cấp, đổi phù hiệu xe kinh doanh vận tải, ngăn “lách luật”
Cục Đường bộ Việt Nam vừa yêu cầu các địa phương tăng cường quản lý việc cấp, đổi phù hiệu đối với xe kinh doanh vận tải, nhằm chấn chỉnh tình trạng lợi dụng kẽ hở chính sách để “lách luật”, gây mất trật tự trong hoạt động vận tải.
Theo cơ quan quản lý, thời gian qua, tại một số địa phương vẫn tồn tại tình trạng doanh nghiệp, cá nhân xin cấp phù hiệu không đúng quy định hoặc sử dụng phù hiệu không đúng mục đích. Điều này không chỉ tạo môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh mà còn tiềm ẩn rủi ro về an toàn giao thông và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước.
Trước thực tế đó, Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu các Sở Giao thông vận tải rà soát, kiểm tra chặt chẽ hồ sơ cấp mới, cấp lại phù hiệu xe kinh doanh vận tải, bảo đảm đúng đối tượng, đúng điều kiện theo quy định pháp luật. Việc cấp, đổi phù hiệu phải gắn với kiểm soát đầy đủ thông tin phương tiện, đơn vị kinh doanh, lộ trình hoạt động và các điều kiện kinh doanh vận tải.
Đặc biệt, các địa phương được yêu cầu tăng cường hậu kiểm, thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của phương tiện sau khi được cấp phù hiệu, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm như sử dụng sai mục đích, cho thuê, mượn hoặc làm giả phù hiệu.
Song song với đó, cơ quan chức năng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kết nối dữ liệu giữa các hệ thống để nâng cao hiệu quả giám sát, hạn chế tình trạng gian lận. Công tác phối hợp giữa các lực lượng như thanh tra giao thông, cảnh sát giao thông cũng được yêu cầu tăng cường nhằm kiểm soát phương tiện hoạt động trên thực tế.
Động thái siết chặt quản lý phù hiệu được kỳ vọng sẽ góp phần lập lại kỷ cương trong lĩnh vực vận tải, bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và an toàn giao thông trong bối cảnh nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng.
Lâm Đồng tháo gỡ vướng mắc, thúc tiến độ KCN Tân Đức
Chiều 23/3, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Hồng Hải chủ trì cuộc họp với các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư nhằm rà soát, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ dự án Khu công nghiệp (KCN) Tân Đức – một dự án hạ tầng công nghiệp quy mô lớn tại địa bàn xã Tân Minh.
Theo báo cáo, dự án KCN Tân Đức có tổng diện tích thu hồi trên 300 ha, đến nay công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đã đạt khoảng 97%. Tuy nhiên, vẫn còn 31 hồ sơ với diện tích 6,74 ha chưa hoàn tất phê duyệt phương án bồi thường, cùng 18 trường hợp (2,16 ha) chưa nhận tiền bồi thường, ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án.
Về triển khai đầu tư, chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Sonadezi Bình Thuận đã hoàn thành các hạng mục giai đoạn 1 và đang tiếp tục xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bao gồm hệ thống giao thông nội khu và nhà máy xử lý nước thải. Tổng vốn thực hiện đạt gần 980/1.200 tỷ đồng, tương đương khoảng 82% kế hoạch.
Dự án bước đầu ghi nhận tín hiệu tích cực về thu hút đầu tư khi đã có 7 dự án thứ cấp đăng ký, gồm 2 dự án trong nước và 5 dự án có vốn nước ngoài, với tổng vốn đăng ký khoảng 725 tỷ đồng và 24,5 triệu USD, diện tích cho thuê trên 30 ha.
Đối với các tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng, đại diện UBND xã Tân Minh cho biết địa phương đang khẩn trương hoàn thiện quy trình xác định giá đất, dự kiến trình thẩm định, phê duyệt trong tháng 4/2026. Đây là cơ sở quan trọng để hoàn tất phương án bồi thường cho các hồ sơ còn lại.
Kết luận cuộc họp, lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung xử lý dứt điểm các vướng mắc về đất đai, đặc biệt là việc xác định giá đất cụ thể và hoàn thiện thủ tục thu hồi đất. Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ bố trí quỹ đất tái định cư, đảm bảo quyền lợi người dân và tạo điều kiện để dự án triển khai đúng kế hoạch.
Việc tháo gỡ các “nút thắt” tại KCN Tân Đức được kỳ vọng sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp và tạo động lực tăng trưởng mới cho khu vực phía Nam tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới.
Hải Phòng đề xuất đầu tư hơn 19.000 tỷ đồng xây trục kết nối Đông – Tây, mở rộng không gian phát triển đô thị
TP. Hải Phòng đang lên kế hoạch triển khai dự án tuyến đường kết nối đô thị phía Tây (khu vực Hải Dương cũ) với khu vực phía Đông thành phố, với tổng chiều dài khoảng 23,5 km và tổng mức đầu tư dự kiến hơn 19.000 tỷ đồng. Dự án được xem là một trong những động lực hạ tầng quan trọng nhằm tăng cường liên kết vùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Theo Sở Xây dựng Hải Phòng, tuyến đường được đề xuất đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), nằm trong danh mục 16 dự án hạ tầng giao thông trọng điểm dự kiến khởi công trong năm 2026. Tuyến có điểm đầu kết nối với vành đai I của khu vực Hải Dương cũ và điểm cuối nối với Quốc lộ 10, đi qua nhiều địa bàn như Nam Đồng, Ái Quốc, An Dương, An Phong cùng các xã Hà Tây, Thanh Hà, Hà Bắc, Hà Nam và Kim Thành.
Về quy mô, tuyến đường được thiết kế hiện đại với bề rộng 68 m, gồm 6 làn xe cơ giới cho ô tô, xe tải và xe khách với tốc độ tối thiểu 80 km/h. Hai bên tuyến bố trí đường song hành phục vụ phương tiện hỗn hợp với tốc độ tối đa 60 km/h. Đáng chú ý, dải phân cách trung tâm rộng khoảng 15 m được quy hoạch để dự trữ quỹ đất phát triển hệ thống vận tải công cộng trong tương lai, trong khi hai bên hành lang rộng khoảng 21 m phục vụ đường gom và phát triển đô thị.
Theo tính toán sơ bộ, lưu lượng phương tiện trên tuyến dự kiến tăng trưởng trung bình 3,5–5% mỗi năm. Đặc biệt, dự án mở ra cơ hội khai thác khoảng 11.777 ha quỹ đất dọc hai bên tuyến, tạo dư địa lớn cho phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ, góp phần gia tăng nguồn thu và tái cấu trúc không gian kinh tế của thành phố.
Hiện nay, Hải Phòng và khu vực Hải Dương đã được kết nối qua các trục giao thông lớn như Quốc lộ 5, cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Quốc lộ 17B và Quốc lộ 37. Tuy nhiên, Quốc lộ 5 đang chịu áp lực lớn từ xe container và xe tải nặng, thường xuyên ùn tắc và xuống cấp, trong khi các tuyến còn lại có quy mô hạn chế. Dù cao tốc Hà Nội – Hải Phòng có năng lực thông hành tốt, chi phí sử dụng cao khiến nhiều phương tiện vẫn lựa chọn tuyến quốc lộ.
Trong bối cảnh đó, việc đầu tư trục kết nối Đông – Tây mới được kỳ vọng sẽ giảm tải cho hạ tầng hiện hữu, đồng thời tăng cường liên kết giữa hai cực tăng trưởng Hải Phòng – Hải Dương. Khi hoàn thành, dự án không chỉ cải thiện năng lực vận tải, mà còn tạo cú hích cho phát triển các khu công nghiệp, logistics và thị trường bất động sản dọc hành lang kinh tế mới của khu vực.