|
| Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh giai đoạn 2026 - 2030. |
Chương trình nhằm cụ thể hóa đầy đủ các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết 20-NQ/TW, đồng thời làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch triển khai gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách và quy hoạch. Mục tiêu là hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển quốc gia biển mạnh trong giai đoạn 2026-2030, trong đó tập trung phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh và thông minh; nâng cao tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển; hoàn thiện hệ thống hạ tầng biển; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống người dân vùng biển, hải đảo.
Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, ưu tiên đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả quản trị biển quốc gia; hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian biển; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển doanh nghiệp biển; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy các ngành kinh tế biển hiện đại; đầu tư đồng bộ hạ tầng biển; bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu; xây dựng văn hóa biển; đồng thời tăng cường quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển và hải đảo. Chính phủ yêu cầu rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến tài nguyên, môi trường, đất đai, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực kinh tế biển; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), quy định rõ cơ chế giao, cho thuê và khai thác không gian biển, nghĩa vụ tài chính, bảo vệ tài nguyên, môi trường và xử lý xung đột trong sử dụng biển. Cùng với đó là rà soát, cập nhật Quy hoạch không gian biển quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số và cơ chế quản lý hiện đại phục vụ quy hoạch và giám sát khai thác không gian biển.
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế biển, Chương trình xác định nhiều hướng đột phá. Chính phủ yêu cầu phát triển mạnh ngành dầu khí và dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hoàn thiện cơ chế cho các dự án năng lượng ngoài khơi, vùng nước sâu và mỏ cận biên; phát triển hệ thống cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, logistics hàng hải gắn với kết nối đồng bộ đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không.
Đối với thủy sản, Chương trình định hướng cơ cấu lại ngành theo hướng giảm khai thác ven bờ, phát triển khai thác xa bờ có trách nhiệm, mở rộng nuôi biển công nghiệp và công nghệ cao, tăng cường bảo quản, chế biến, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong nuôi biển. Chính phủ cũng yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm sớm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" IUU của Ủy ban châu Âu (EC), nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá và bảo tồn nguồn lợi thủy sản.
Song song với đó, Chương trình khuyến khích phát triển du lịch và dịch vụ biển có thương hiệu quốc tế, hình thành các trung tâm du lịch biển quy mô lớn, phát triển du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và kinh tế đêm. Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng cơ chế phát triển các ngành kinh tế biển mới như công nghệ sinh học biển, dược liệu biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển, tạo động lực tăng trưởng mới cho kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn tới.