WB: Xuất khẩu và nhu cầu trong nước của Việt Nam đều chững lại

0:00 / 0:00
0:00
(BĐT) - Cập nhật Tình hình Kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 12/2022 vừa được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố cho thấy, cả hai động lực tăng trưởng là xuất khẩu và nhu cầu trong nước đều đang chững lại.
Ảnh minh họa: Internet
Ảnh minh họa: Internet

Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 5,3% trong tháng 11 (so cùng kỳ) so với 6,3% trong tháng 10 (so cùng kỳ), là mức tăng thấp nhất kể từ tháng 2/2022. Tăng trưởng giảm đà phần nào do hiệu ứng xuất phát điểm cao.

WB: Xuất khẩu và nhu cầu trong nước của Việt Nam đều chững lại ảnh 1

Chỉ số sản xuất công nghiệp

(Tỷ lệ %, không điều chỉnh theo mùa vụ)

Thực chất, chỉ số sản xuất công nghiệp phục hồi từ mức -1,8% trong tháng 10/2021 (so cùng kỳ) lên 8,2% trong tháng 11/2021 (so cùng kỳ) khi quốc gia mở cửa lại sau giai đoạn giãn cách Covid-19 kéo dài. Ngoài ra, sức cầu bên ngoài yếu đi cũng là một yếu tố đóng góp quan trọng, khi nhu cầu của các thị trường xuất khẩu chủ lực đã và đang suy giảm.

Tiếp tục xu hướng giảm từ tháng 9/2022, chỉ số PMI trong lĩnh vực chế tạo chế biến lần đầu tiên bị trượt về vùng suy giảm (dưới 50 điểm) kể từ tháng 10/2021, giảm từ 50,6 trong tháng 10/2022 xuống còn 47,4 trong tháng 11. Điều này cho thấy điều kiện sản xuất kinh doanh trong tháng 11 đã xấu đi so với các tháng trước đó.

Theo báo cáo của WB, tăng trưởng doanh số bán lẻ cũng giảm từ 20,7% trong tháng 10 (so cùng kỳ) xuống 17,5% trong tháng 11 (so cùng kỳ), tốc độ tăng giảm liên tục trong ba tháng qua. Bên cạnh lý do giảm phần nào do hiệu ứng xuất phát điểm thấp liên quan đến giãn cách Covid-19 trong quý III/2021 đang yếu dần, tốc độ phục hồi tiêu dùng trong 3 quý đầu năm có vẻ cũng đang giảm xuống. Mặc dù du lịch quốc tế tiếp tục phục hồi, nhưng số lượt khách du lịch vẫn thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước đại dịch.

WB: Xuất khẩu và nhu cầu trong nước của Việt Nam đều chững lại ảnh 2

Doanh số bán lẻ

(Tỷ lệ %, không điều chỉnh theo mùa vụ)

WB cho biết, xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đều giảm lần đầu tiên kể từ tháng 11/2021. Cụ thể, xuất nhập khẩu hàng hóa giảm lần lượt 8,4% và 7,2% trong tháng 11/2022 (so cùng kỳ năm trước). Xuất khẩu giảm đồng loạt, một phần do sức cầu bên ngoài yếu đi nhưng cũng do hiệu ứng xuất phát điểm cao so với tốc độ tăng ngoại lệ vào tháng 11/2021 nhờ nền kinh tế được mở cửa lại sau nhiều tháng giãn cách.

Do xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu, hầu hết các sản phẩm nhập khẩu chủ lực đều giảm mạnh so với năm trước đó, ngoại trừ kim ngạch nhập khẩu nhiên liệu tăng 61,7% trong tháng 11/2022 (so cùng kỳ năm trước).

WB cũng cho biết, lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) nhích nhẹ từ 4,3% trong tháng 10 lên 4,4% trong tháng 11. Lạm phát cơ bản, nghĩa là không gồm giá lương thực, thực phẩm, năng lượng và các mặt hàng có giá do Nhà nước quản lý (y tế và giáo dục), tiếp tục tăng từ 4,5% trong tháng 10 lên 4,8% trong tháng 11, đạt kỷ lục mới.

Theo WB, tăng trưởng tín dụng giảm từ 16,5% trong tháng 10 (so cùng kỳ) xuống còn 15,0% trong tháng 11 (so cùng kỳ) là mức giảm mạnh nhất trong những tháng qua. Tăng trưởng tín dụng giảm do tác động của điều kiện huy động tài chính bị thắt chặt sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng các mức lãi suất chính lên tổng cộng 200 điểm cơ bản trong tháng 9 và tháng 10. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm bình quân vẫn ở mức cao, 5,7% trong tháng 11/2022. Ngoài ra còn do mức trần tăng trưởng tín dụng do NHNN đặt ra, nhưng mức trần này đã được nới lỏng vào đầu tháng 12, khi trần tín dụng được nâng thêm 1,5 - 2%.

WB: Xuất khẩu và nhu cầu trong nước của Việt Nam đều chững lại ảnh 3

Tăng trưởng tín dụng

(Tỷ lệ %, không điều chỉnh theo mùa vụ)

Cân đối ngân sách trong tháng 11 đạt 1,4 tỷ USD bội thu sau khi giảm nhẹ về mức bội chi trong tháng 9 và bội thu nhẹ ở mức 0,2 tỷ USD trong tháng 10. Tổng thu tăng 5,9% (so cùng kỳ năm trước) trong khi giảm 6,7% (so cùng kỳ) trong tháng 10. Tổng chi cũng tăng cao hơn, tháng 11 tăng 17,0% so với 11,8% của tháng trước (so cùng kỳ).

Đến cuối tháng 11/2022, tổng thu đã cao hơn 16,1% so với dự toán thu còn tổng chi bằng 76,2% dự toán chi (cao hơn một điểm % so với cùng kỳ năm trước), dẫn đến bội thu 12,1 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2022.

"Chi phí vay nợ tăng cao phản ánh điều kiện huy động tài chính trong nước bị thắt chặt khi NHNN nâng lãi suất để ổn định đồng nội tệ so với đồng USD trong tháng 9 và tháng 10", WB nhận định.

WB cho rằng, cả hai động lực tăng trưởng là xuất khẩu và nhu cầu trong nước đều đang chững lại. Nhu cầu bên ngoài yếu đi gây ảnh hưởng đến xuất khẩu, trong khi tiêu dùng hậu Covid-19 dường như cũng phục hồi chậm lại. Điều kiện huy động tài chính bị thắt chặt hơn và lạm phát gia tăng có thể ảnh hưởng đến nhu cầu trong nước trong thời gian tới. Đồng USD yếu đi trong tháng 11 giúp giảm nhẹ áp lực đối với tỷ giá.

Theo WB, do điều kiện huy động tài chính trên toàn cầu bị thắt chặt và nhu cầu bên ngoài yếu đi, cơ quan quản lý tiền tệ của Việt Nam có thể cân nhắc cho phép tỷ giá được linh hoạt hơn nữa nhằm ứng phó với những cú sốc bên ngoài. Chính sách này có thể được bổ sung bằng cách sử dụng sáng suốt lãi suất tham chiếu và sử dụng thận trọng can thiệp tỷ giá trực tiếp nhằm bảo vệ được dự trữ ngoại hối. Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ là điều kiện quan trọng để duy trì ổn định giá cả trong bối cảnh lạm phát cơ bản trong nước gia tăng. Chiến lược chi tiêu thận trọng hơn và tập trung hơn vào đúng ưu tiên nhằm đảm bảo đầu tư cho vốn con người, hạ tầng xanh và thích ứng khí hậu sẽ giúp nâng cao khả năng chống chịu và tiềm năng của nền kinh tế.

Chuyên đề

Kết nối đầu tư