Ngày 9/11, Quốc hội bước sang ngày thứ hai tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn với các thành viên Chính phủ.

TOÀN CẢNH: Phó Thủ tướng và các Bộ trưởng trả lời chất vấn

Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cho biết Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Thời gina qua, mặc dù có nhiều sự đầu tư lớn về nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội cùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi nhưng so với yêu cầu thực tế vẫn chưa đáp ứng được. Đây là sự trăn trở rất lớn. Chính phủ đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua đề án tổng thể về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt để triển khai đề án này. Đây là quyết sách ý Đảng, lòng dân. Dự kiến dầu tư cho đề án là trên 100 nghìn tỷ đồng, trong 10 năm.

Chính phủ xác định 4 mục tiêu lớn: Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần, không để ai bị bỏ lại phí sau; giảm dần địa bàn đặc biệt khó khăn, thu hẹp khoảng cách so với vùng phát triển; khắc phục những hạn chế, bất cập của các chính sách trước đây; tăng niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã nêu một số giải pháp chính để thực hiện đề án.

Trước hết là khẩn trương nghiên cứu xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia cho phát triển kinh tế-xã hội cùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021-2030; bố trí nguồn vốn theo tiến độ thực hiện ngay từ năm 2021.

Chính phủ cũng xác định huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội cùng đồng bào dân tộc, miền núi, trong đó nguồn lực Nhà nước giữ vai trò quan trọng, quyết định.

Chính phủ sẽ đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho các địa phương, bộ ngành, chỉ thực hiện chức năng hướng dẫn, kiểm tra.

Chính phủ sẽ chỉ đạo ban hành cơ chế đặc thù, giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết phù hợp với thực tiễn, tăng cường sự giám sát của nhân dân.

Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo, hướng dẫn các tỉnh giao trách nhiệm cho một đầu mối hướng dẫn, triển khai, định kỳ sơ kết, tổng kết hàng năm, báo cáo với Quốc hội để giám sát.

Chính phủ có những giải pháp phù hợp, hiệu quả, kiên quyết phòng chống lãng phí, bảo đảm sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, có hiệu quả, trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng.

Phải chuyên nghiệp hóa lực lượng ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn

Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội chiều 9/11, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết trong phiên chất vấn ngày 6/11 vừa qua đã trả lời một số đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước về các vấn đề liên quan đến phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Với câu hỏi của đại biểu Nguyễn Văn Chiến (TP. Hà Nội) và Hà Sỹ Đồng (tỉnh Quảng Trị) và một số đại biểu khác trong phiên chất vấn hôm nay, Phó Thủ tướng cho biết, về cơ quan phòng, chống thiên tai chuyên trách: Trước tình hình thiên tai diễn biến ngày càng nghiêm trọng, thực hiện quy định của Luật Phòng, chống thiên tai, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, trước đây do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp làm Trưởng ban, nay Thủ tướng giao cho một Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, cơ quan thường trực là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đồng thời, Thủ tướng cũng thành lập Ủy ban Quốc gia về ứng phó sự cố và tìm kiếm cứu nạn do Phó Phủ tướng làm trưởng ban và Bộ Quốc phòng là cơ quan thường trực.

Đây là hai cơ quan rất quan trọng phối hợp liên ngành vừa có trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp nhưng đồng thời thực hiện chức năng tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các địa phương trong công tác phòng, chống thiên tai.

Ở các địa phương có Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân trực tiếp làm Trưởng ban.

Về việc có cần một đạo luật giao cho một bộ chuyên trách về tình trạng khẩn cấp để chịu trách nhiệm phòng, chống thiên tai, dịch bệnh như chất vấn của Đại biểu Nguyễn Văn Chiến, Phó Thủ tướng xin báo cáo thêm với Quốc hội.

Theo thống kê của Văn phòng điều phối các vấn đề nhân đạo Liên Hợp Quốc (OCHA), hiện nay trên thế giới đang có một số mô hình tổ chức lực lượng phòng chống thiên tai và cứu hộ, cứu nạn.

Trong đó:

- Có khoảng 10 nước thành lập Bộ Tình trạng khẩn cấp: Nga, Trung Quốc, Ukraine, Belarus, Azerbijan, Kazakhstan, Uzbekistan… Bộ này ngoài việc ứng phó với thiên tai, thảm hoạ, còn có nhiệm vụ xử lý khủng hoảng, đảm bảo an ninh, phòng chống dịch bệnh trên quy mô lớn.

- Một số quốc gia, vùng lãnh thổ như (Mỹ, Nhật Bản, Israel, Ấn Độ, Hà Lan, Philippines, Malaysia, Sri Lanka, Đài Loan (Trung Quốc)… thành lập cơ quan Phòng chống thiên tai quốc gia (trong đó một số nước có mô hình tương tự như Việt Nam).

Như vậy, Chính phủ sẽ tiếp tục tổng kết thực tiễn trong quá trình chỉ đạo phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ - cứu nạn và các kinh nghiệm quốc tế để đề xuất mô hình phù hợp, cũng như những giải pháp để huy động sức dân trong phòng chống thiên tai - dịch bệnh, cứu hộ - cứu nạn, báo cáo Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định.

Về lực lượng ứng phó sự cố, tìm kiếm cứu nạn, trả lời chất vấn của đại biểu Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị), Phó Thủ tướng cho hay tùy tình huống sự cố, thiên tai cụ thể, Ủy ban Quốc gia hoặc Ban Chỉ huy PCTT và TKCN huy động các lực lượng tham gia công tác ứng phó và cứu hộ cứu nạn.

Trong đó, quân đội và công an vẫn luôn là lực lượngnòng cốt trongứng phó sự cố, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, bên cạnh đó có sự tham gia tích cực của lực lượng của các bộ, ngành như lực lượng tìm kiếm cứu nạn hàng hải, kiểm ngư và các lực lượng khác (tàu thuyền của dân).

Đặc biệt là lực lượng tại chỗ ở địa phương. Thời gian qua, các lực lượng phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn của Trung ương và địa phương đã tập trung quyết liệt ứng phó với thiên tai, bão lũ, và đã góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản cho người dân.

Tuy nhiên, công tác cứu hộ - cứu nạn còn nhiều hạn chế, như đại biểu và cử tri đã nêu. Phó Thủ tướng nêu một số nguyên nhân:Dotính chuyên nghiệp của các lực lượng ứng phó thiên tai, cứu hộ - cứu nạn còn hạn chế.

Phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác ứng phó sự cố, thiên tai và cứu hộ cứu nạn chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt khi có tình huống phức tạp, ở vùng sâu, vùng xa.

Về nhiệm vụ thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bổ sung những gì còn bất hợp lý, chưa phù hợp.

Yêu cầu phải có lực lượng phòng, chống thiên tai, ứng phó sự cố, tìm kiếm cứu nạn chuyên nghiệp và có trang thiết bị hiện đại để ứng phó hiệu quả với mọi loại hình thiên tai, sự cố xảy ra.

Do đó, thời gian tới cần tập trung củng cố lực lượng phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn các cấp, trong đó phải hoàn thành việc xây dựng lực lượng xung kích ở cơ sở có tính chuyên nghiệp theo Nghị quyết 76 năm 2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai.

Đây là vấn đề rất quan trọng. Thành công vừa rồi, lực lượng tại chỗ có vai trò, có nơi là quyết định.

Đồng thời, phải đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ ứng phó thiên tai, cứu hộ, cứu nạn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và đặc điểm thiên tai của từng vùng, từng địa phương.

Trong đó tập trung: Bổ sung sớm các máy bay trực thăng chuyên dùng cho công tác cứu nạn (máy bay trực thăng phải bay được trong điều kiện gió lớn, địa hình phức tạp); bổ sung các tàu cứu hộ, cứu nạn, nhất là các tàu cứu hộ cứu nạn xa bờ và các trang bị, phương tiện chuyên dùng hiện đại khác; bổ sung trang thiết bị theo dõi, giám sát, phân tích, cảnh báo thiên tai (hệ thống cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất, theo dõi vận hành hồ chứa…).

- Thường xuyên tổ chức diễn tập ứng phó cho các lực lượng và người dân với các loại hình thiên tai, sự cố khác nhau.

- Khẩn trương xây dựng Trung tâm Điều hành Quốc gia về phòng chống thiên tai.Không để quy hoạch treo cản trở quá trình phát triển

Về chất vấn của đại biểu Đinh Duy Vượt (tỉnh Gia Lai) đối với các giải pháp khắc phục tình trạng quy hoạch treo, Phó Thủ tướng cho biết các quy hoạch xây dựng nói chung, trong đó quy hoạch đô thị, quy hoạch hạ tầng, các quy hoạch khu chức năng đặc thù đều có giai đoạn quy hoạch cụ thể, tức là giai đoạn khoảng 10 năm hoặc hơn 10 năm, tầm nhìn khoảng từ 15-20 năm hoặc xa hơn.

Quy hoạch có vai trò đặc biệt quan trọng để định hướng phân bổ không gian phát triển và đây cũng là một công cụ để quản lý quá trình phát triển, quản trị phát triển bền vững.

Tuy nhiên, hiện nay tình trạng quy hoạch treo, dự án treo vẫn xảy ra ở nhiều nơi, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân và của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội. Nhiều nơi người dân không thể đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế do vướng quy hoạch. Muốn xây dựng lại, sửa nhà cũng không làm được.

Nhưng quy hoạch thì không được thực hiện do Nhà nước không có nguồn lực để đầu tư, trong khi đó thì không huy động được các nhà đầu tư vào thực hiện các khu vực đã có quy hoạch vì những khu vực này quy hoạch chưa hấp dẫn. Như vậy dẫn đến quy hoạch treo, tức là đất không được khai thác, sử dụng có hiệu quả.

Nguyên nhân trước hết là do chất lượng một số quy hoạch còn thấp như Bộ Xây dựng đã nói, chưa phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng khu vực, không cân đối được nguồn lực để thực hiện. Quy hoạch theo phong trào, quy hoạch rất rộng nhưng không tính toán nguồn lực cho nên không có nguồn lực để đầu tư.

Mặt khác, công tác lập quy hoạch chưa gắn với công tác xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch nhằm xác định rõ lộ trình, nguồn lực đầu tư phù hợp trong từng giai đoạn để từ đó cho phép người dân được đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong thời gian chưa thực hiện quy hoạch.

Tức là quy hoạch 10 năm, thì 10 năm sau mới thực hiện, trong 10 năm đó trở lại phải cho người dân thực hiện đầu tư xây dựng những công trình để phát triển sản xuất, nhưng thực tế là không được phép do vướng quy hoạch.

Vấn đề nữa là do Nhà nước chưa chủ động được nguồn vốn để bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, đồng thời thực hiện tái định cư để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân. Hiện nay trong pháp luật về đầu tư, xây dựng, đặc biệt là Luật Đầu tư công, chưa phân định rõ những dự án giải phóng mặt bằng như một dự án độc lập. Các cơ quan chức năng đã đề nghị tách phần giải phóng mặt bằng thành một dự án độc lập để có thể tạo quỹ đất sạch để đấu giá đất và thứ hai là chủ động đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Công đoạn này thường mất rất nhiều thời gian. Như dự án sân bay Long Thành, phần GPMB đã được Quốc hội thông qua một tiểu dự án thì làm rất tốt, nhanh.

Về giải pháp khắc phục, trước hết phải đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch gắn với nâng cao chất lượng quy hoạch. Quy hoạch phải thực sự trở thành động lực cho phát triển bền vững, phải rà soát lại các quy hoạch để điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển, cân đối được nguồn lực thực hiện theo từng giai đoạn.

Thứ hai là sau khi có quy hoạch, các ngành, các địa phương phải xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch, trong đó xác định rõ lộ trình, nguồn lực đầu tư, vốn ngân sách, vốn xã hội và các dự án ưu tiên để triển khai thực hiện. Nghị định 11 của Chính phủ quy định rất rõ.

Thứ ba, phải gắn việc xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch với phát triển thị trường bất động sản, thị trường nhà, thị trường bất động sản công nghiệp, thị trường bất động sản du lịch…, đặc biệt là chương trình nhà ở, trong đó có nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân lao động, người thu nhập.

Thứ tư, cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện quy hoạch, kịp thời phát hiện những bất cập, những vi phạm, xử lý nghiêm.

Thứ năm là tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư xây dựng, đặc biệt là Luật Đầu tư công, trong đó cần phải coi dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư là những dự án độc lập để các ngành, các địa phương chủ động quỹ đất sạch để đấu giá đất hoặc để huy động các dự án đầu tư phát triển, từ đó sẽ có đủ điều kiện để chuyển người dân trong vùng quy hoạch sang các khu đô thị mới với cuộc sống tốt hơn.

Phó Thủ tướng trả lời chất vấn của đại biểu Huỳnh Minh Tuấn (tỉnh Đồng Tháp): Việt Nam là một trong những nước chịu tác động rất nặng nề của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Do tác động của biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn, đồng thời có tác động của việc khai thác nước tại các khu vực thượng nguồn, các dòng sông, đặc biệt có liên quan đến các nước trong khu vực, đã làm gia tăng hạn mặn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2020 chúng ta chứng kiến đợt hạn mặn rất nặng nề ở vực đồng bằng sông Cửu Long.

Do vậy, việc đảm bảo an ninh nguồn nước ngọt nói chung của đất nước và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là một nhiệm vụ rất cấp bách.

Về giải pháp, trước hết cần tiếp tục tái cấu trúc nền kinh tế của mỗi vùng, miền và của mỗi địa phương. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã tái cấu trúc nền kinh tế gắn với điều kiện hạn mặn, phù hợp với các kịch bản biến đổi khí hậu rồi. Nghị quyết 120 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long cũng đã thể hiện rất rõ. Chúng ta cần tiếp tục rà soát để tiếp tục tái cấu trúc sản xuất như Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã nói.

Thứ hai, trên cơ sở tái cấu trúc, tập trung rà soát các quy hoạch của khu vực đồng bằng sông Cửu Long và các quy hoạch của các địa phương trong vùng, quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch đô thị, quy hoạch hạ tầng, giao thông để điều chỉnh, bổ sung, lập các quy hoạch mới, đặc biệt là quy hoạch thủy lợi. Chúng ta cập nhật các quy hoạch này vào quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch mới mà chúng ta đang làm.

Trong đó phải quy hoạch các hồ chứa nước ngọt phù hợp với toàn vùng và từng địa phương. Ở đây phải phù hợp với quy hoạch chung, tổng thể của cả vùng và từng địa phương, cung cấp nước cho sản xuất, vừa cung cấp nước cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt để giảm khai thác nước ngầm.

Trên cơ sở quy hoạch, các địa phương trong vùng phải xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch dài hạn, 10 năm, trung hạn, 5 năm và hàng năm. Trước mắt cần lựa chọn các dự án ưu tiên, đặc biệt là các hồ chứa nước ngọt để đầu tư trong giai đoạn 5 năm 2021 – 2015.

Các địa phương, trong đó có Đồng Tháp cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xây dựng kế hoạch vốn ngân sách của giai đoạn tới, trong đó có kế hoạch và đầu tư công trung hạn, trong đó có các công trình dự trữ nước ngọt sẽ được xây dựng vào giai đoạn 5 năm tới.

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sẽ ưu tiên để phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, ứng phó với hạn mặn, ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Chỉ như vậy chúng ta mới có thể thực hiện được trên cơ sở khoa học chứ không phải chúng ta muốn làm gì là có thể làm ngay. Tất cả đều đúng theo quy định của pháp luật và đúng theo trình tự của quá trình đầu tư xây dựng.

Chú trọng thực chất đến các vấn đề nền tảng văn hóa, đạo đức xã hội

Trả lời câu hỏi của các đại biểu Quốc hội về tình trạng văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng đây là vấn đề rất lớn, liên quan đến mọi tổ chức, mọi người dân. Bởi vì không ai có thể nói mình không cần tiếp tục tu dưỡng về đạo đức hay tất cả các hành vi ứng xử của mình đều đã là tối ưu, chuẩn mực.

Theo Phó Thủ tướng, thực trạng đạo đức xã hội và ứng xử xuống cấp là có thật. Nhiều hội thảo, nhiều tài liệu đánh giá là xuống cấp đáng báo động, một số mặt nghiêm trọng, thể hiện rõ ở tội phạm, tệ nạn, những hành vi bị đồng tiền chi phối hay gian dối không trung thực. Biểu hiện ở một số giá trị văn hóa truyền thống bị mai một. Nhưng đánh giá thực trạng cần nhìn hai mặt. Câu chuyện của văn hóa, hình thành văn hóa, đạo đức xã hội là câu chuyện dài hơi của mấy chục năm, trăm năm thậm chí dài hơn. Tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức xã hội xuất hiện từ khi chúng ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, bắt đầu đổi mới thì thấy rõ hơn. Nhưng mặt khác chúng ta không quên và vẫn rất tự hào về những ưu điểm lớn nhất của đạo đức, văn hóa xã hội Việt Nam.

Thứ nhất là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Nhân dân nước nào yêu nước và có tinh thần dân tộc hơn nhân dân Việt Nam? Khi đội tuyển U23 Việt Nam thi đấu thành công tại Vòng chung kết U23 châu Á năm 2018, cả dân tộc nao nức. Đấy là tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Thứ hai là tình yêu thương đồngloại, thương người. Có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh như vừa rồi mà người dân thương nhau, giúp đỡ nhau đến như vậy.

Thứ ba là sự hòa ái, thân thiện, cởi mở. Nếu người dân Việt Nam không hòa ái, thân thiện, cởi mở là soa Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của du lịch.

Thứ tư là tình yêu lao động. chịu thương chịu khó. Dân tộc Việt Nam nếu không yêu lao động. chịu thương chịu khó thì không thể thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển như hôm nay.

Thứ năm là tinh thần vươn lên, đức hiếu học. Ngay việc các đại biểu Quốc hội và toàn dân quan tâm đến giáo dục cũng đã thể hiện điều đó.

Nói như vậy để thấy rằng những hiện tượng xuống cấp của toàn xã hội là đáng báo động nhưng không phải vì thế mà chúng ta nhìn nhận xã hội, đạo đức xã hội, con người Việt Nam một cách không công bằng. Chúng ta nhìn thẳng vào những khiếm khuyết để khắc phục và gần đây đã có những khắc phục rất tốt, nếu qua nhiều năm tích tụ lại thì mới rõ lên. Phó Thủ tướng lấy ví dụ về phong trào học tập, làm theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước, từng bước thấm vào.

Phó Thủ tướng phân tích nguyên nhân khách quan là mặt trái của kinh tế thị trường, thông tin mạng, mạng xã hội. Về chủ quan thì nhiều người thường nói ngay là yếu kém của văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa thứ nhất là trong mỗi con người và trong toàn xã hội, cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu.

Nguyên nhân thứ hai, khi có sự suy yếu và đạo đức trong từng thời kỳ không chỉ riêng do giáo dục hay văn hóa mà do các bất cập của cả hệ thống thể chế quản lý về pháp luạt, kinh tế, xã hội. Đảng ta xác định: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần, là vô cùng sâu sắc.

Thứ ba là kinh tế thị trường, đặc biệt gần đây mạng internet, mạng xã hội có mặt trái nhưng không bao giờ bằng mặt tốt và chúng ta tiếp cận, chủ động sử dụng để đẩy mạnh mặt tốt lên.

Trong các văn bản của Đảng, Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức, văn hóa xã hội, Phó Thủ tướng chia sẻ thêm một số suy nghĩ.

Trước hết, muốn góp phần cho cái tốt nhiều lên, cái xấu bớt đi thì đầu tiên phải làm cho toàn xã hội, từng người dân hiểu rõ cái gì là tốt, cái gì là xấu. “Có những thứ chúng ta tưởng là dễ thấy ngay nhưng không phải. Ví dụ ăn cắp ai cũng biết là xấu nhưng ăn cắp thời gian thì không mấy ai nghĩ là xấu”.

Vấn đề thứ hai là phải kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền, vận động phong trào với luật hóa và xử lý. Việc xử lý nghiêm minh bằng pháp luật là mọt biểu hiện của văn hóa, đạo đức nhưng suy cho cùng phải vận động tuyên truyền mọi người để tự điều chỉnh hành vi, đạo đức cá nhân. Đấy mới là nền tảng, gốc rễ.

Thứ ba, trong mọi thời kỳ đều cần sự nêu gương từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, người lớn nêu gương cho người trẻ, đảng viên đi trước, làng nước đi sau.

Thứ tư, trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Đức-Trí-Thể-Mỹ cần đặc biệt lưu ý không chỉ “Đức” mà cả “Mỹ”, lưu ý đến các ngành nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng vì những tác phẩm nghệ thuật hay là những thông điệp giáo đục văn hóa đạo đức tốt nhất, những hoạt động văn hóa tín ngưỡng đúng mức, đúng pháp luật sẽ giúp cho cái tốt nảy nở trong mỗi người một cách bền vững.

Bốn điểm đó, theo Phó Thủ tướng, cần hết sức lưu ý và thực hiện kiên trì.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng cho rằng phải thực sự đặc biệt chú ý, chú trọng các vấn đề xã hội nói chung, trong đó có đạo đức, văn hóa. Nhược điểm phổ biến của tất cả các nước đang phát triển khi bị sức ép về tăng trưởng kinh tế, thì những vấn đề xã hội, văn hóa, đạo đức nhiều khi là vấn đề chưa làm ra tiền trong ngắn hạn, chưa cấp bách nên dễ bị coi nhẹ nhưng Việt Nam chúng ta cũng đã chú ý hơn các nước khác rất nhiều, nên các chỉ tiêu xã hội tốt hơn. Khi xã hội khấm khá hơn như ngày hôm nay thì chúng ta sẽ có điều kiện chú trọng hơn một cách thực chất đến các vấn đề nền tảng.

Phó Thủ tướng mong các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực văn hóa, xã hội, không chỉ là nguồn lực đầu tư, con người mà cả thời gian, tâm sức, chỉ đạo.

Để dân tộc Việt Nam tiếp tục tự hào với truyền thống văn hiến, xứng đáng với truyền thống cha ông ta để lại.


Tự chủ đại học không có nghĩa là không có quản lý

Trả lời đầu tiên trong phiên làm việc buổi chiều 9/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề cập các vấn đề liên quan tới một bộ phận người lao động về hưu có mức lương thấp; tình trạng người tham gia bảo hiểm y tế nhưng khi đi khám bệnh thì vẫn phải bỏ tiền mua thuốc; vấn đề tự chủ đại học và giải pháp để tự chủ đại học thực sự; hiện tượng xuống cấp của đạo đức xã hội..."Tự chủ đại học không có nghĩa là không có quản lý", Phó Thủ tướng nhấn mạnh và cho biết, với vụ việc tại trường Đại học Tôn Đức Thắng, Chính phủ, Thủ tướng rất cẩn trọng với yêu cầu phải theo đúng các quy định của pháp luật. Tinh thần là Chính phủ, Thủ tướng sẽ rất công minh và ủng hộ tự chủ đại học, tạo điều kiện cho trường phát triển.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Phạm Thị Minh Hiền (tỉnh Phú Yên), đại biểu Dương Minh Ánh (TP. Hà Nội) về vấn đề tự chủ đại học, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết chúng ta đã thực hiện tự chủ đại học nhưng mới được một số bước, vừa qua đã có kết quả rất tốt nhưng còn phải thực hiện tiếp tục. Đây là một quá trình.

Phó Thủ tướng cho biết, đối với tự chủ đại học có 5 điểm mang tính nguyên tắc trên toàn thế giới và một điểm cũng có tính nguyên tắc cho Việt Nam và một số nước có hoàn cảnh tương tự, chúng ta phải quán triệt, hiểu thông suốt và phải luật hóa, thực hiện trong chỉ đạo, điều hành.

Thứ nhất, đại học không chỉ là nơi làm ra tri thức mà là nơi làm việc, sinh hoạt của trí thức có mặt bằng nhận thức xã hội cao hơn mức bình thường. Cả thế giới coi đại học phải xây dựng mô hình quản trị tiên tiến, từ đó lan tỏa ra toàn xã hội, đảm bảo tính dân chủ, tính sáng tạo, tính khoa học.

Thứ hai, đại học đã tự chủ luôn gắn với trách nhiệm giải trình. Mọi hoạt động của cơ sở giáo dục đại học phải được thực hiện theo pháp luật, theo những quy chế công khai cho toàn xã hội giám sát rất chi tiết.

Thứ ba, tự chủ đại học không có nghĩa là nhà nước không đầu tư tiền nữa. Ở tất cả các nước, các trường đại học tự chủ nhà nước vẫn phải tiếp tục đầu tư không chỉ đặt hàng đào tạo, cấp học bổng mà còn xây dựng cơ sở vật chất.

Thứ tư, tự chủ đại học không có nghĩa là không có quản lý mà phải quản lý theo pháp luật, không chỉ riêng về lĩnh vực giáo dục.

Thứ năm, thực hiện tự chủ nhưng phải có cơ chế để đảm bảo các đối tượng như người nghèo, khuyết tật, hay một số đối tượng đặc thù không bị giảm bớt cơ hội tiếp cận giáo dục đại hộc, nhất là đại học chất lượng cao. Việt này Việt Nam chú trọng hơn các nước.

Thứ sáu, đối với những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì khái niệm chủ sở hữu của đại học cũng thay đổi vì đóng góp vào trường đại học không chỉ là tiền, cơ sở vật chất mà còn là trí tuệ, đóng góp học phí của người dân và vì thế về lâu dài khái niệm chủ sở hữu trường đại học không đơn thuần của một cơ quan, tổ chức nào mà của toàn xã hội. Liên quan đến câu hỏi của đại biểu Nguyễn Minh Ánh về có nên bỏ cơ quan chủ quản trường đại học không, Phó Thủ tướng cho biết thực ra trong luật pháp của nước ta không có khái niệm cơ quan chủ quản mà chỉ còn khái niệm cơ quan quản lý và cơ quan chủ sở hữu. Hiện nay cơ quan quản lý chủ yếu sẽ quản lý về công tác cán bộ, và theo các quy định của Đảng.

Với 6 điểm mang tính nguyên tắc trên, việc thực hiện tự chủ đại học vẫn còn những bất cập. Cí dụ, về kinh tế vẫn còn vướng mắc rất nhiều như việc thu tiền tài trợ, học phí và chi học phí vẫn bị coi như ngân sách nhà nước, thủ tục còn vướng mắc. Hay câu chuyện tuổi giữ chức vụ của cán bộ trong trường đại học cũng liên quan đến các quy định pháp luật, các quy định của Đảng. Hay về mặt quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT còn câu chuyện khi trường đại học mở ngành mới vẫn còn các quy định ràng buộc về tỷ lệ giáo viên, tiến sỹ, giáo sư. Những điểm này dần dần chúng ta phải điều chỉnh.

Trước mắt có hai việc, theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam là rất quan trọng, để thực hiện tự chủ đại học đúng hướng và đúng quy luật. Tất cả các trường đại học phải kiện toàn, thành lập mới hội đồng trường với tư cách là cơ quan thực quyền chứ không phải có tính hình thức. Tất cả các trường đại học đều phải xây dựng quy chế điều hành, tổ chức, hoạt động nội bộ, tài chính nội bộ tỉ mỉ, chi tiết theo quy định của pháp luật, công khai cho toàn dân biết và giám sát.

“Tự chủ đại học là một quá trình chuyển đổi, có nhiều điểm chưa có tiền lệ thì khi xử lý chúng ta hết sức bình tĩnh và xu hướng phải ủng hộ”, Phó Thủ tướng nói.

Về vấn đề của Trường đại học Tôn Đức Thắng, Phó Thủ tướng cho biết đã trao đổi thẳng thắn với Bộ Tư pháp nhiều lần và khi chưa rõ ràng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn luôn hết sức trách nhiệm, không hề lơ là nhưng phải rất cẩn trọng, đúng quy định. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lập một đoàn công tác, có sự tham gia của Bộ Tư pháp, vào xem xét, phân tích, báo cáo về Trường đại học Tôn Đức Thắng. Tinh thần là Chính phủ rất công minh, ủng hộ tự chủ, tạo điều kiện cho trường phát triển.

Trả lời câu hỏi đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TPHCM) về lương hưu cho những người nghỉ hưu trước năm 1993, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ hết sức đồng cảm về mặt tình cảm và hết sức quyết tâm. Do phân công công tác, trước đây Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam không tham gia Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội (BHXH) và ưu đãi người có công, nhưng theo dõi ngành lao động nhiều năm thì vấn đề này được nhiều đại biểu Quốc hội, nhân dân, các cán bộ lão thành nêu. Tháng 2/2020 có sự thay đổi phân công trong thường trực Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tham gia vào ban chỉ đạo và được Thủ tướng giao nhiệm vụ làm Phó Trưởng ban thường trực giúp Thủ tướng. Tại phiên họp sau đó 1 tháng, Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công đã đưa ra nhiều nội dung, trong đó có nội dung về lương hưu cho những người nghỉ hưu trước năm 1993.

Chúng ta có khoảng 600.000 người nghỉ hưu trước năm 1993, và còn 400.000 người nghỉ hưu ở những thời điểm khác nhau nhưng lương rất thấp, dưới 3 triệu đồng/tháng, trong đó có những trường hợp như công nhân cao su chỉ 1 triệu đồng/tháng. Bộ LĐTBXH đã tính toán phương ánlàm sao để có khoản bù thêm, theo quy định do ngân sách nhà nước đảm bảo chứ không phải do BHXH và đã tính ra trong 400.000 đối tượng với mức bù khoảng 500.000 đồng/người/tháng thì mất khoảng 2.400 tỷ đồng/năm, tuy nhiên, việc này phải tính trong đồng bộ.

Sau đó do ảnh hưởng của dịch COVID-19, ảnh hưởng đến nguồn thu cho nên các cơ quan có thẩm quyền cấp trên đã quyết định lùi thời ddiemr thực hiện chính sách cải cách lương đi kèm với nó là BHXH, chính sách người có công và kể cả áp dụng tiêu chuẩn nghèo mới đa chiều thay vì đầu năm 2021 sang 1/7/2022. Riêng đối với những người nghỉ hưu trước năm 1993, thu nhập thấp, Bộ LĐTBXH sẽ báo cáo với Thủ tướng và sẽ bàn.

Về câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (tỉnh Kiên Giang), Phó Thủ tướng Vũ Đam cho rằng đúng là có rất nhiều ý kiến phản ánh các bệnh nhân chữa bằng bảo hiểm y tế (BHYT) nhưng vẫn phải ra hiệu thuốc mua theo đơn của bác sĩ điều trị.

Để khắc phục triệt để tình trạng này cần phải nhìn nhận đúng nguyên nhân, và theo Phó Thủ tướng có hai nguyên nhân chính.Thứ nhất, nhiều ý kiến, kể cả các bác sĩ, nói rằng chính sách thanh toán của BHYT không phù hợp. Điều đó đúng sự thực nhưng có căn nguyên. Hiện nay, mệnh giá một người đóng trung bình BHYT, có tăng lên nhưng mới đạt 1,1 triệu đồng/người/năm, so với các nước trong khu vực như Philippines chúng ta chỉ bằng 1/3, so với Thái Lan chỉ bằng 1/4.

Trong khi giá thuốc, chúng ta sản xuất được nhiều thuốc nhưng hơn 90% nguyên liệu vẫn phải nhập từ nước ngoài nên giá thuốc theo mặt bằng quốc tế. Chúng ta đã cố gắng giảm giá thuốc rẻ hơn các nước trong ASEAN nhưng cũng chỉ rẻ hơn 10-15%, vì vậy, BHYT không thể thanh toán tất cả các loại thuốc, mà thường xu thế chỉ thanh toán những loại thuốc tạm gọi là thông thuồng, còn những loại thuốc đắt tiền, thuốc phát minh (thường gọi là biệt dược gốc), nhiều loại người bệnh phải bỏ tiền túi. Hiện nay, hàng năm chúng ta chỉ phí khoảng 120.000 tỷ đồng tiền thuốc thì BHYT thanh toán khoảng 36-37%.

Để khắc phục vấn đề này, chúng ta phải duy trì, tăng tỷ lệ bao phủ BHYT, hiện là 90,7%, và phải tăng mệnh giá. Muốn vậy, thu nhập người dân phải tăng lên, phần ngân sách nhà nước hỗ trợ cũng phải có nguồn thu nhiều hơn. Đây là một quá trình dài hơi, liên tục, chúng ta phải tiếp tục cố gắng.

Nguyên nhân thứ hai, rất nhiều bệnh nhân phản ánh và đánh giá rằng do có tiêu cực, sự móc nối giữa bác sĩ điều trị và các trình dược viên, các công ty thuốc, nhà thuốc, kê đơn ra để ăn hoa hồng. Việc này trong nhiều năm ngành y tế đã chỉ đạo rất quyết liệt và có thể nói rằng có hiện tượng đó nhưng không phải là tất cả. Để khắc phục nguyên nhân nầy chỉ cso một cách là công khai, minh bạch hết bằng công nghệ thông tin. Chúng ta có đến hơn 20.000 loại thuốc và dịch vụ, hành triệu lượt khám, chữa bệnh một năm thì không thể nào kiểm soát được nếu không tin học hóa. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế, những năm vừa rồi đã làm rất tốt.

Trong thời gian được phân công trực tiếp điều hành Bộ Y tế, cùng với việc chỉ đạo chống dịch COVID-19, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và lãnh đạo Bộ Y tế cũng đã tập trung quyết liệt thực hiện tin học hóa để đẩy nhanh hơn tiến độ rất nhiều lần. Một số việc đã hoàn thành như cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp 4, nền tảng khám chữa bệnh từ xa, từng bước công bố tất cả những thông tin liên quan đến quản lý ngành y tế,… Tới đây Bộ Y tế sẽ kết nối toàn bộ hệ thống quản lý của các cơ sở y tế, nhà thuốc, làm hóa đơn điện tử, bệnh án điện tử thì mới kiểm soát tốt. Chúng ta cũng phải đẩy mạnh liên thông xét nghiệm để giảm lãng phí.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Thảo (Nghệ An) về tỷ lệ người dân chưa có điện lưới quốc gia.

Theo Bộ trưởng, nhiệm vụ cấp điện lưới quốc gia cho tất cả mọi người dân là một nhiệm vụ ưu tiên. Quyết định 1740 của Thủ tướng Chính phủ xác định đến hết năm 2020, phải bảo đảm 100% người dân có điện lưới quốc gia; trong đó gần 9 nghìn thôn bản phải có điện lưới. Còn những vùng khó khăn phải dùng điện tái tạo nếu không có điều kiện tiếp cận lưới điện.

Bộ trưởng cho biết, ngay từ đầu, Chính phủ, Bộ Công Thương đã có dự trù nguồn vốn đầu tư công trung hạn cho nhiệm vụ này, từ 2016-2018 đã bố trí hơn 4.700 tỷ đồng. Đến 2018, đã đạt 100% số xã có điện lưới quốc gia nhưng số thôn bản thì không đạt, lý do là vướng trần nợ công, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã báo cáo cấp có thẩm quyền chưa tiếp tục triển khai chương trình này. Đến nay, nợ công đã ở mức an toàn, thì các cơ quan tiếp tục báo cáo Quốc hội tiếp tục triển khai và huy động hơn 21.000 tỷ đồng để đến năm 2025 thực hiện được mục tiêu cấp điện cho 100% người dân, kể cả miền núi và hải đảo.

Trả lời các câu hỏi về các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý, Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, về tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức, Nghị định của Chính phủ đã quy định, nếu trường đại học đã đào tạo theo chuẩn rồi thì không cần người tham gia tuyển dụng phải có chứng chỉ ngoại ngữ nữa. Nghị định cũng đã giao các bộ quản lý chuyên ngành ban hành các tiêu chuẩn cụ thể về trình độ ngoại ngữ theo từng vị trí việc làm. Để tiến tới bỏ quy định về ngoại ngữ trong tuyển dụng, thi nâng ngạch…, hiện Bộ đang sửa đổi quy định theo hướng không yêu cầu chứng chỉ mà chỉ yêu cầu năng lực sử dụng ngoại ngữ.

Thực hiện chủ trương sắp xếp bộ máy, Bộ trưởng cho biết đã giảm được nhiều đầu mối, tổ chức, như giảm 973 tổ chức cấp phòng ở địa phương. Nhiều chỉ tiêu về tinh giản biên chế, sắp xếp đơn vị sự nghiệp chắc chắn sẽ hoàn thành.

“Việc sắp xếp bộ máy sẽ tập trung làm từ năm 2021 trở đi nhưng không làm cơ học mà có hiệu lực, hiệu quả, phục vụ thuận lợi nhất cho người dân và doanh nghiệp. Sắp tới, Bộ sẽ trình Chính phủ cơ cấu tổ chức nhiệm kỳ mới, sẽ thể hiện rõ quan điểm này”, Bộ trưởng cho biết.

Về xã hội hóa dịch vụ công, hiện các bộ ngành địa phương đang sắp xếp lại các dịch vụ công, chia ra làm 4 loại, trong đó có những loại dịch vụ công mà nhà nước không cần nắm giữ, có thể thực hiện tự chủ hoặc xã hội hóa… Bộ trưởng cũng nói thêm, xã hội hóa lĩnh vực y tế không có nghĩa là tư nhân hóa các cơ sở y tế hiện có. Nhưng tinh thần chung là các cơ quan nhà nước tập trung vào một số việc như xây dựng cơ chế chính sách, chiến lược, kế hoạch, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và đẩy nhanh việc xã hội hóa.

Về câu hỏi của đại biểu liên quan tới dự án nâng cấp đường từ Hà Nội tới Bắc Giang, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể cho biết dự án hoàn thành năm 2016, thời điểm đó nhà đầu tư và Bộ GTVT dự kiến đường chỉ lưu thông ô tô, còn xe hai bánh lưu thông tại các đường gom, nhưng khi khánh thành thì nhu cầu của người dân rất lớn trong khi các đường gom chưa hoàn chỉnh. Sau khi đại biểu có ý kiến, Bộ đã xác định tuyến đường này không bảo đảm tiêu chuẩn đường cao tốc, mà quản lý như một quốc lộ. Thời gian tới, Bộ sẽ tập trung công tác giải phóng mặt bằng, triển khai thi công các đường gom (khoảng 43km), trong đó đã có khoảng 21 km, còn khoảng 22km đường cần giải phóng mặt bằng để thi công. Bộ cũng đang thu xếp nguồn vốn cho việc nâng cấp, mở rộng các cây cầu trên tuyến đường này.

Tự chủ đại học không có nghĩa là không có quản lýTrả lời đầu tiên trong phiên làm việc buổi chiều 9/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề cập các vấn đề liên quan tới một bộ phận người lao động về hưu có mức lương thấp; tình trạng người tham gia bảo hiểm y tế nhưng khi đi khám bệnh thì vẫn phải bỏ tiền mua thuốc; vấn đề tự chủ đại học và giải pháp để tự chủ đại học thực sự; hiện tượng xuống cấp của đạo đức xã hội..."Tự chủ đại học không có nghĩa là không có quản lý", Phó Thủ tướng nhấn mạnh và cho biết, với vụ việc tại trường Đại học Tôn Đức Thắng, Chính phủ, Thủ tướng rất cẩn trọng với yêu cầu phải theo đúng các quy định của pháp luật. Tinh thần là Chính phủ, Thủ tướng sẽ rất công minh và ủng hộ tự chủ đại học, tạo điều kiện cho trường phát triển.

Trả lời câu hỏi đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TPHCM) về lương hưu cho những người nghỉ hưu trước năm 1993, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ hết sức đồng cảm về mặt tình cảm và hết sức quyết tâm. Do phân công công tác, trước đây Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam không tham gia Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội (BHXH) và ưu đãi người có công, nhưng theo dõi ngành lao động nhiều năm thì vấn đề này được nhiều đại biểu Quốc hội, nhân dân, các cán bộ lão thành nêu. Tháng 2/2020 có sự thay đổi phân công trong thường trực Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tham gia vào ban chỉ đạo và được Thủ tướng giao nhiệm vụ làm Phó Trưởng ban thường trực giúp Thủ tướng. Tại phiên họp sau đó 1 tháng, Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công đã đưa ra nhiều nội dung, trong đó có nội dung về lương hưu cho những người nghỉ hưu trước năm 1993.

Chúng ta có khoảng 600.000 người nghỉ hưu trước năm 1993, và còn 400.000 người nghỉ hưu ở những thời điểm khác nhau nhưng lương rất thấp, dưới 3 triệu đồng/tháng, trong đó có những trường hợp như công nhân cao su chỉ 1 triệu đồng/tháng. Bộ LĐTBXH đã tính toán phương ánlàm sao để có khoản bù thêm, theo quy định do ngân sách nhà nước đảm bảo chứ không phải do BHXH và đã tính ra trong 400.000 đối tượng với mức bù khoảng 500.000 đồng/người/tháng thì mất khoảng 2.400 tỷ đồng/năm, tuy nhiên, việc này phải tính trong đồng bộ.

Sau đó do ảnh hưởng của dịch COVID-19, ảnh hưởng đến nguồn thu cho nên các cơ quan có thẩm quyền cấp trên đã quyết định lùi thời ddiemr thực hiện chính sách cải cách lương đi kèm với nó là BHXH, chính sách người có công và kể cả áp dụng tiêu chuẩn nghèo mới đa chiều thay vì đầu năm 2021 sang 1/7/2022. Riêng đối với những người nghỉ hưu trước năm 1993, thu nhập thấp, Bộ LĐTBXH sẽ báo cáo với Thủ tướng và sẽ bàn.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Thảo (tỉnh Nghệ An) về vấn đề văn bản bộ ngành ban hành chưa phù hợp: Qua thực tiễn kiểm tra của Bộ Tư pháp theo thẩm quyền một số năm qua đối với văn bản của bộ ngành, địa phương, thì năm 2016 các bộ ngành có 36 văn bản sai sót, năm 2019 là 13 văn bản, đến tháng 10/2020 là 5 văn bản. Nguyên nhân là do chủ thể ban hành văn bản chưa rà soát kỹ các khâu, chưa phát huy vai trò bộ phận pháp chế; hạn chế về chuyên môn và bản lĩnh khi xử lý những điểm còn khó, phức tạp. Giải pháp khắc phục trong thời gian tới là cần hạn chế tối đa việc phải ban hành thông tư; cơ chế kiểm soát thông tư phụ thuộc rất nhiều vào người đứng đầu các bộ ngành; rà soát, lắng nghe kỹ các ý kiến góp ý.

Trả lời câu hỏi đại biểu về nguồn lực phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết Bộ GTVT thời gian tới sẽ lo hoàn thành các quốc lộ, cao tốc nối Cà Mau - Bạc Liêu - Cần Thơ, dự kiến hoàn thành trong năm 2025.

Nguồn lực thứ hai là từ địa phương, ở đây là nguồn lực mà địa phương được Trung ương phân bổ, cộng với ngân sách sẵn có để thực hiện các dự án hạ tầng.Thứ ba là nguồn lực Trung ương, trong đó, Thủ tướng đã đồng ý tăng thêm cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2 tỷ USD trong giai đoạn tới.Giai đoạn 2021-2025, Bộ KH&ĐT sẽ xây dựng dự án hỗ trợ ngân sách địa phương thông qua các nhà tài trợ khoảng 1,05 tỷ USD để tập trung làm toàn bộ đường ven biển cho các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các dự án giao thông quan trọng khác tại khu vực này.Bên cạnh đó, Trung ương sẽ hỗ trợ các dự án có tính chất liên vùng. Bộ KH&ĐT đã thống nhất với các địa phương, cần thông qua hội đồng vùng trước khi trình Chính phủ xem xét.Mỗi địa phương sẽ được hỗ trợ một dự án động lực quan trọng nhất của tỉnh mà có tính liên vùng để phát triển trong thời gian tới. Một nguồn lực nữa là từ các hợp đồng đối tác công tư, nguồn xã hội hóa.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng trả lời đại biểu Bùi Thanh Tùng (TP. Hải Phòng) về tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu số (CSDL) hiện nay: Ở cấp độ Chính phủ đến nay chúng ta đã hoàn thành 4/6 CSDL quốc gia, còn CSDL dân cư sẽ khai trương vào tháng 2/2021 và hoàn thiện vào tháng 7/2021; CSDL đất đai sẽ khai trương trong năm 2020 và hoàn thiện vào trong năm 2021.

Bộ TT&TT đã ban hành chuẩn kỹ thuật để CSDL các bộ ngành, địa phương kết nối, xây dựng trục kết nối chia sẻ CSDL xong trong năm 2020, ra mắt cổng quốc gia về dữ liệu và Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành lộ trình để các bộ ngành, địa phương mở dữ liệu trên cổng.

Năm 2020, Bộ TT&TT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 47 về kết nối, chia sẻ dữ liệu, trình Chính phủ chiến lược quốc gia về CSDL.

Như vậy, trong năm 2020 chúng ta đã xong về chiên lược, thể chế, nền tảng, và từ năm 2021 tiến độ xây dựng CSDL số của quốc gia và bộ ngành, địa phương sẽ nhanh hơn rất nhiều.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường trả lời câu hỏi của đại biểu Phạm Thị Thu Trang (tỉnh Quảng Ngãi) về xây dựng hạ tầng nghề cá và xử lý 938 HTX đã đừng hoạt động: Hiện chúng ta có 99.000 tàu cá các loại, trong đó 31.500 tàu có công suất lớn, khai thác khoảng 3,5 triệu tấn hải sản/năm. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quy hoạch hệ thống khu neo đậu và cảng cá, phải thực hiện từ sau năm 2015 với tổng vốn đầu tư khoảng 36.400 tỷ đồng, tuy nhiên, 5 năm qua chúng ta mới thực hiện được 28%, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nghề cá hiện đại. Bộ NN&PTNT xác định đây là một ưu tiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 của ngành nông nghiệp.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cương cho rằng HTX là loại hình phù hợp với nền kinh tế đa dạng của Việt Nam. Đến nay chúng ta đã có 17.000 HTX, vượt chỉ tiêu của nghị quyết Quốc hội đề ra là 15.000 HTX và năm 2020. Vì vậy, đối với 938 HTX đã dừng hoạt động cần thúc đẩy xử lý các vướng mắc, đặc biệt về nguồn tài sản, làm tiền đề cho các HTX mới ra đời. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế chính sách để ưu tiên hơn nữa cho loại hình HTX, nhân rộng mô hình ở những khu vực thuận lợi để cơ cấu kinh tế hộ, HTX, DN hình thành nền nông nghiệp họi nhập, bền vững, hiệu quả.

Tại phiên chất vấn sáng nay, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã trả lời chất vấn của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội) về việc bao giờ thì xây dựng Luật hành chính công, dịch vụ công. Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, tất cả các đại biểu Quốc hội Khóa XIII, XIV đều nhận biết được sự kiên trì của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh trong sáng kiến đề xuất xây dựng pháp luật, đó là dự án Luật hành chính công.

Tuy nhiên, sau nhiều lần Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ trao đổi thống nhất, Chủ tịch Quốc hội cho biết, chưa thể ban hành luật này vì các lý do sau: Thứ nhất, các quy định về hành chính công đều đã được quy định trong từng dự án luật. Trong hệ thống pháp luật chúng ta đều có các quy định thủ tục hành chính công. Thứ hai, trong dự thảo Luật mà đại biểu đã trình bày, đã chuẩn bị thì chưa rõ đối tượng, phạm vi và nội hàm và vì thế chưa thể ban hành được, chưa thể trình Quốc hội được.

“Quốc hội, Ủy ban Thường vương Quốc hội, Chính phủ đánh giá cao sự kiên trì của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh và lúc đầu chúng tôi đã tổ chức bố trí đầy đủ điều kiện để Ban soạn thảo nghiên cứu, làm việc. Tuy nhiên, vì những lý do trên cho tới nay chưa trình Quốc hội được”, Chủ tịch Quốc hội cho biết.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Kim Xuân (tỉnh Đắk Lắk) về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chiến lược phát triển cây mắc ca: Trong 4 năm, Quốc hội đã thông qua 3 luật về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp quy định rất sâu về sử dụng sản phẩm có hóa chất ở đầu vào sản xuất. Nếu năm 2016, chúng ta nhập khẩu 114.500 tấn thuốc bảo vệ thực vật thì 9 tháng đầu năm 2020 còn 30.000 tấn. Thời gian tới, ngành nông ghiệp tiếp tục tăng cường quả lý công tác nhập khẩu, sửa dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng cường tập huấn, hướng dẫn bà con nông dân. Đến nay trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép lưu hành tại Việt Nam không có loại nào chứa chất Dioxin.

Về chiến lược phát triển cây mắc ca, Bộ trưởng cho biết đây là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, đa mục tiêu. Hai vùng phù hợp là Tây Nguyên, Tây Bắc với có 16.500 ha. Để cây trồng nay phát triển hiệu quả thì chúng ta phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống (hienj các cơ sở được cấp phép có công suất cung cấp 3 triệu cây giống/năm); tuân thủ nghiêm quy tình, kỹ thuật được hướng dẫn; phải gắn với cơ sở chế biến;… Bộ NN&PTNT đang gấp rút hoàn thiện chiến lược phát triển cây mắc ca đến năm 2025.

Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái trả lời đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (TP. Hà Nội), cán bộ công chức gây nhũng nhiễu nhiều nhất ở ở lĩnh vực nào, trách nhiệm thuộc về ai, giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này: Trách nhiệm để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, phiền hà người dân, DN trực tiếp là người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tình trạng gây nhũng nhiễu nhiều nhất ở những lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với người dân, cán bộ, công chức thiếu rèn luyện. Thanh tra Chính phủ đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hanh chỉ thị về giảm và chống gây phiền hà, nhũng nhiễu cho người dân, DN vào tháng 4/2019, tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc để riển khai chỉ thị này nhằm chấn chỉnh tình trạng nhũng nhiễu. Và sau 1 năm thực hiện, Thanh tra Chính phủ đã có sơ kết.

Về căn cứ đánh giá tình trạng tham nhũng được kiềm chế, ngăn chặn, có chiều hướng giảm, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết dự trên ý kiến đánh giá, phản ánh người dân, chỉ số đánh giá hiệu quả phòng chống tham nhũng của Thanh ttra Chính phủ, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch thế giới, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng…

Bộ trưởng, Chủ nhiệm VCP Mai Tiến Dũng cho biết việc cắt giảm thủ tục hành chính là bước đi đúng, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hóa hơn 1.000 thủ tục hành chính, 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh, 6.776/9.926 danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành… Tuy nhiên, như nhận xét của đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (TP. Đà Nẵng), thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà,phức tạp, có trường hợp cắt thủ tục hành chính này thì mọc quy định khác, cắt điều kiện kinh doanh này thì chuyển sang quy chuẩn, tiêu chuẩn, và trở thành rào cản DN.Bộ trưởng, Chủ nhiệm VVPCP cho rằng cần đẩy mạnh rà soát các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh hiện nay, nâng cao chất lượng kiểm soát từ dự thảo, nâng cao năng lực cơ quan thẩm định; thực sự cắt giảm chi phí cho người dân, DN; tiếp tục đổi mới lề lối làm việc, cần đẩy mạnh công khai, ứng dụng công nghệ thông tin để người dân và doanh nghiệp giám sát.…

Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc Dung trả lời câu hỏi của đại biểu về quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp: Sau 3 năm chúng ta đã hoàn thiện toàn bộ văn bản pháp luật. Các địa phương, một số bộ đã sắp xếp lại, riêng năm 2020 đã giảm từ 1.996 cơ sở xuống 1.909 cơ sở và giảm 77 cơ sở công lập, hoàn thành mục tiếu trước năm 2021; hoàn thành 103% đến 107% kế hoạch đào tạo. Giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam từ chỗ chưa được xếp hạng đến nay đã đứng thứ mức 90/158 nước/vùng lãnh thổ trên thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2019.

Thời gian tới, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ sắp xếp theo hướng “hai trong một”, “ba trong một”, ngoài hoạt động đào tạo, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ là cánh tay nối dài cơ sở đào tạo bậc cao hơn, kiên quyến giải thể các cơ sở yếu kém, sáp nhập cơ sở trùng chức năng. Thời gian tới, các tỉnh chỉ sẽ còn 1-2 trường cao đẳng đào tạo đa ngành, đa hệ, khuyến khích thành lập cơ sở tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài, gắn với nhau cầu sản xuất của DN, công bố khung trình độ quốc gia theo tham chiếu ASEAN, công nhận văn bằng chứng chỉ quốc tế với một số nước phát triển cao như Australia, Nhật Bản… Mục tiêu đến năm 2030 giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong ASEAN, quy mô tuyển sinh gấp 3 lần hiện nay.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Mai Ánh Tuyết (tỉnh An Giang) về dịch bệnh COVID-19 đã làm thay đổi nhiều quy định, giá trị truyền thống, chúng ta biết đến một cách rõ rệt hơn khái niệm “nền kinh tế không tiếp xúc”, giao dịch không tiếp xúc..., Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng cho biết Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh ứng dụng dịch vụ công trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, nhiều dịch vụ công và thủ tục hành chính đã được giải quyết không qua tiếp xúc giữa người thực hiện và cơ quan hành chính nhà nước.

Cổng Dịch vụ công quốc gia là “một cửa duy nhất” trên môi trường điện tử kết nối, tương tác giữa người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước để tra cứu thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến.

Sau gần một năm thực hiện (được khai trương từ ngày 9/12/2019), Cổng Dịch vụ công quốc gia đã tích hợp, cung cấp gần 2.200 dịch vụ công trực tuyến trên tổng số gần 7.000 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền. Sau hơn 9 tháng kể từ ngày khai trương, ngày 19/8/2020, Cổng Dịch vụ công quốc gia đạt mốc 1.000 dịch vụ công; tiếp đó, đến tháng 10 đạt thêm 1.000 dịch vụ công nữa, như vậy, trong gần 2 tháng, số dịch vụ công đã tăng trên 400% so với 9 tháng trước đó; Chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là trên 6.700 tỷ đồng/năm.

Sau gần 8 tháng triển khai Cổng Dịch vụ côngquốc gia đã kết nối với 10 ngân hàng, đơn vị cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho phép cá nhân, tổ chức thanh toán trực tuyến qua tài khoản/thẻ ngân hàng với 40/46 ngân hàng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trả lời câu hỏi về khắc phục ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy.

Bộ trưởng cho biết vấn đề này chưa được khắc phục triệt để; trong đó, khoảng 65% nguồn thải từ Hà Nội. Chính phủ cũng như các địa phương đã đầu tư khoảng 20 nghìn tỷ đồng cho vấn đề này. Cụ thể là xây dựng các trạm quan trắc, trồng rừng đầu nguồn, nhưng vấn đề quan trọng nhất là xử lý nguồn thải.

Sắp tới, Bộ trưởng đề nghị giải pháp trước mắt là điều tiết nước thải. Còn lâu dài, phải thực hiện nghiêm túc Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nếu nước thải không bảo đảm thì không cho xả ra. Còn vi phạm thì phải chế tài.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (đoàn Hà Nội) về bao giờ xây dựng Luật Hành chính công, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, các đại biểu đều nhận biết sự kiên trì của đại biểu trong vấn đề này. Tuy nhiên, hiện chưa thể ban hành Luật này vì các quy định liên quan tới hành chính công đã nằm trong các đạo luật. Thứ hai, dự thảo mà đại biểu Trần Thị Quốc Khánh xây dựng chưa rõ đối tượng, phạm vi, nội hàm, tuy nhiên, Quốc hội, UBTVQH và Chính phủ đánh giá cho sự kiên trì của đại biểu và tạo điều kiện cho ban soạn thảo, nhưng cho tới nay chưa ban hành được vì các vấn đề trên.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long trả lời Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) về các điều kiện kinh doanh.

Bộ trưởng cho biết các điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật và đều có nguyên tắc. Tuy nhiên, với các thông tư, Bộ chỉ có thẩm quyền đề xuất các Bộ xem xét xử lý. Các quy định vi phạm quy định của pháp luật là một trong các nội dung Bộ Tư pháp tập trung, làm sao để giảm bớt đi. Với các bộ ngành, nếu trình độ chuyên môn tốt thì sẽ hạn chế được vấn đề này. Hai nữa, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật và nếu có sự tham gia giám sát của dư luận, cử tri… cũng sẽ giúp giảm các vấn đề này.

Bộ trưởng , Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng trả lời câu hỏi đại biểu Mai Thị Kim Nhung (tỉnh Quảng Trị) về thực hiện Đề án liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất (trợ cấp tuất và trợ cấp mai táng)/hỗ trợ chi phí mai táng/hưởng mai táng phí: Trước khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất (trợ cấp tuất và trợ cấp mai táng)/hỗ trợ chi phí mai táng/hưởng mai táng phí, việc thực hiện các thủ tục này có rất nhiều bất cập, người dân phải đi lại nhiều lần mới làm xong thủ tục, thậm chí có trường hợp người đã khai tử những vẫn có tên trong cử tri đi bầu trưởng thôn, xóm tại xã Chu Minh, Ba Vì… Đến nay, cơ bản 63/63 địa phương đã thực hiện phê duyệt liên thông giải quyết các thủ tục hành chính đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất (trợ cấp tuất và trợ cấp mai táng)/hỗ trợ chi phí mai táng/hưởng mai táng phí với sự hỗ trợ của Bộ Tư pháp, Bộ Công an. Người dân chỉ đến UBND xã nộp hồ sơ 1 lần để thực hiện 3 thủ tục trên. Việc thực hiện đề án này đã tiếp nhận 353.846 hồ sơ, trong đó, đã giải quyết 350.400 hồ sơ (số hồ sơ quá hạn là 2.352 hồ sơ chiểm tỷ lệ 0,67%), tiết kiệm 38,8 tỷ đồng. một số địa phương triển khai tốt công tác này như Nam Định, Ninh Bình, Quảng Bình, Nghệ An... Thời gian tới các địa phương tiếp tục quan tâm, thúc đẩy thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, đẩy mạnh liên thông…

Bộ trưởng NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường trả lời câu hỏi về tiến độ nghiên cứu sản xuất vaccine dịch tả lợn châu Phi của đại biểu Mai Sỹ Diến (tỉnh Thanh Hóa): Đến nay, nhánh nghiên cứu trong nước đã phân lập, lựa chọn, lập ngân hàng các chủng virus dịch tả lợn châu Phi tại Việt Nam, giải trình tự gen, nghiên cứu dịch tễ, sản xuất một số chế phẩm sinh học nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn, sản xuất một số loại vaccine khác nhau thử nghiệm quy mô hẹp cho kết quả khả quan, các DN đang hoàn thiện công nghệ để sản xuất quy mô công nghiệp, chọn tạo dòng lợn kháng dịch tả lợn châu Phi từ những con lợn nái đã sống sót ở các ổ dịch.

Nhánh quốc tế, chúng ta đã hợp tác, tiếp nhận chủng virus dịch tả lợn châu Phi ở nước ngoài và sản xuất lô vaccine bước đầu thử nghiệm rất khả quan. Dự kiến khoảng quý 3/22021 sẽ có vaccine dịch tả lợn châu Phi.

Ngoài ra, Bộ NN&PTNT đã tổng kết nhân rộng mô hình sử dụng các chế phẩm sinh học chăn nuôi an toàn với tổng đàn 100.000 con lợn sinh trưởng tốt, không có dịch bệnh.

Về chiến lược giống cây trồng, vật nuôi ở ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu của đại biểu Trần Thị Vĩnh Nghi (TP. Cần Thơ), Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cương cho biết, chiến lược tập trung và nhóm thủy sản, trái cây và lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng xuất khẩu.

Cụ thể, chúng ta có chương trình giống quốc gia cho cá tra và tôm. Đối với cá tra, mục tiêu đến năm 2025, tầm nhìn 2030 chúng ta hoàn toàn chủ động nguồn giống cá tra khoảng 4,4 tỷ con. Về tôm, đến nay chúng ta mới chủ động được khoảng 40% lượng giống cho tôm thẻ chân trắng và hàng năm phải nhập khoảng 250.000 tôm bố mẹ, chúng ta phải đẩy mạnh chủ động nguồn giống bố mẹ.

Đối với trái cây, chúng ta xác định có 10 loại điển hình và phấn đấu đến năm 2030 thuộc tốp tiên tiến, đảm bảo cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Về Lúa gạo, chúng ta sẽ tăng cường gạo chất lượng cao, hiện 9 loại gạo thơm của Việt Nam đã được EU cho phép xuất khẩu vào thị trường này; đồng thời chúng ta cần phát triển các giống lúa chịu hạn, chịu mặn. Hiện nay, nhu cầu giống lúa tốt, giống xác nhận ở ĐBSCL khoảng 250.000 tấn/năm, mới đáp ứng được 65%, vì vậy, chúng ta phải tăng khối lượng này lên.

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời đại biểu Lê Công Nhường (Bình Định) về năm 2021 tăng trưởng GDP nếu tăng trưởng chỉ có 6% thì làm thế nào để bảo đảm thu – chi, cân đối ngân sách quốc gia.

Bộ trưởng cho biết các giải pháp, thứ nhất, cùng các bộ ngành địa phương tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; thúc đẩy giải ngân đầu tư công; kích cầu trong nước để tăng trưởng. Tăng cường quản lý thuế, chống chuyển giá, trốn giá, thu hồi nợ đọng thuế. Bám sát yêu cầu của Quốc hội về ngân sách để xử lý các vấn đề phát sinh.

Về câu hỏi của đại biểu Mai Sĩ Diến (Thanh Hóa) về kinh phí bảo vệ môi trường, Bộ trưởng cho biết, thời gian qua, một số lĩnh vực được ưu tiên ngân sách như giáo dục, y tế, khoa học, chúng ta đã thực hiện đúng yêu cầu. Tuy nhiên, có tình trạng hằng năm chi không hết chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Có 3 nguyên nhân. Thứ nhất, hằng năm khi tháng 10, Quốc hội phê duyệt ngân sách thì các địa phương lại phê duyệt chậm các nội dung về sự nghiệp bảo vệ môi trường, đến tháng 10 chỉ đạt khoảng 50-60%. Nguyên nhân thứ hai, chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường có tính chất đầu tư thì Luật Bảo vệ môi trường không cho phép; vấn đề này Bộ đã báo cáo Chínhphủ, Quốc hội và đã xử lý. Với xử lý các điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thì theo quy định, Trung ương hỗ trợ 50%, địa phương chi 50% kinh phí, nhưng nhiều địa phương khó khăn, không bảo đảm được khoản chi này.

Về giải pháp, Bộ trưởng cho rằng, các địa phương phải tăng tiến độ phê duyệt nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Nghiên cứu sửa đổi Luật bảo vệ môi trường và các văn bản cho phù hợp…

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trả lời các câu hỏi về đầu tư kè biên giới và về xây dựng công trình ứng phó biến đổi khí hậu.

Bộ trưởng cho biết, về kè biên giới, chúng ta có rất nhiều kè phải đầu tư, tuy nhiên, chương trình tổng thể kè biên giới chưa xây dựng được mà chỉ tập trung xử lý các công trình cấp bách. Thời gian tới, Bộ sẽ cùng các bộ ngành xây dựng chương trình tổng thể để đầu tư căn cơ, bài bản, lâu dài.

Về các công trình biến đổi khí hậu, trong đó có các tuyến đê xung yếu, Chính phủ, Thủ tướng hết sức quan tâm, sử dụng nguồn dự phòng, tăng thu, vượt thu, kết dư… để thực hiện. Thực hiện nghị quyết của Quốc hội, đến nay đã tổng hợp khoảng 4.800 tỷ đồng để khắc phục các tuyến đê xung yếu, các địa phương đang triển khai.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng trả lời đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (Nghệ An) về vấn đề xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên mạng và bảo vệ trẻ em trên mạng.

Bộ trưởng cho biết, tháng 4 vừa qua, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, Chính phủ đã đồng ý về nội dung và đề nghị Bộ cân nhắc thêm thẩm quyền ban hành, trong tuần này Bộ sẽ đề xuất Chính phủ về thảm quyền. Chắc chắn, Bộ quy tắc sẽ được ban hành trong năm 2020 và vấn đề bảo vệ trẻ em sẽ được Bộ lồng ghép trong Bộ quy tắc, yêu cầu tôn trọng nhà cung cấp mạng và người sử dụng phải hướng dẫn trẻ em sử dụng mạng an toàn, lành mạnh. Ngoài ra, còn có đề án giúp trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng, với các vấn đề như thành lập đầu mối tiếp nhận các vấn đề cần xử lý liên quan tới trẻ em trên mạng, sử dụng trí tuệ nhân tạo để nhận diện và xử lý các vấn đề liên quan tới trẻ em, trang bị các kỹ năng cho trẻ em có hành động thích hợp…, đề án đã được trình Chính phủ và sẽ được ban hành năm nay.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Lưu Văn Đức (Đắk Lắk) về chuyển đổi số miền núi, Bộ trưởng cho biết trong Đề án chuyển đổi số đã được Thủ tướng phê duyệt, thì chuyển đổi số cho vùng sâu,vùng xa được ưu tiên, vì càng nơi khó khăn thì chuyển đối số càng hiệu quả, chuyển đổi số bắt đầu từ nơi khó.

Về sóng, Bộ đang chỉ đạo cố gắng để vùng núi, vùng sâu xa có thể truy cập được mạng. Cùng với đó, thực hiện thanh toán điện tử. Bà con vùng sâu xa có một khó khăn là không có điện thoại thông minh, hiện đã có đề án phối hợp để bán điện thoại thông minh với giá khoảng 600-700 nghìn đồng cho bà con. Ưu tiên giáo dục trực tuyến để bà con có thể tiếp cận các bài giảng chất lượng cao. Ứng dụng hệ thống khám chữa bệnh từ xa, thương mại điện tử. Bộ đã triển khai thí điểm xã thông minh với các nội dung trên và cuối năm nay sẽ tổng kết.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân trả lời câu hỏi của đại biểu Đinh Thị Kiều Trinh (Nghệ An) về chính sách với cán bộ, viên chức là người dân tộc thiểu số.

Bộ trưởng cho biết, Chính phủ không ban hành nghị định riêng về nội dung này mà lồng ghép vào các nghị định về tuyển dụng, sử dụng, cán bộ, viên chức. Ví dụ, người dân tộc thiểu số được cử tuyển đi học đại học, xét tuyển vào biên chế. Chính phủ cũng quy định rõ tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức trong tổng số biên chế. Người dân tộc thiểu số khi tuyển dụng được miễn ngoại ngữ và tin học…., thi tuyển thì được cộng điểm ưu tiên, miễn thi ngoại ngữ thi khi nâng ngạch. Nữ cán bộ công chức viên chức người dân tộc thiểu số được kéo dài tuổi nghỉ hưu tới 60 như nam. Bộ đã trình Chính phủ ban hành Quyết định 771 về bồi dưỡng kiến thức với cán bộ, công chức người thiểu số.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh) về bồi dưỡng người hoạt động không chuyên trách, Bộ trưởng cho biết Nghị định 101 về đào tạo cán bộ, công chức chưa có đối tượng này, Bộ trưởng cảm ơn, ghi nhận ý kiến đại biểu và cho biết sẽ phối hợp với các cơ quan xử lý vấn đề này.

Về ý kiến đại biểu về vấn đề làm gương của Bộ Nội vụ, Bộ trưởng cho biết đã tiến hành kỷ luật các cán bộ, công chức, viên chức vi phạm. Với các vấn đề mà phê bình các địa phương đơn vị thì Bộ phải làm trước. Bộ phải làm ít nhất là bằng hoặc tốt hơn nơi khác về tinh giản biên chế, Bộ làm rất nghiêm túc. Bộ cũng đã ban hành Quy chế ứng xử của công chức; là một trong những cơ quan đầu tiên thực hiện đơn vị một cửa. “Các đại biểu nếu phát hiện cán bộ của ngành vi phạm đạo đức công vụ thì đề nghị cung cấp thông tin cho Bộ trưởng, chúng tôi sẽ xử lý nghiêm”, Bộ trưởng phát biểu.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà trả lời chất vấn của đại biểu Đinh Duy Vượt (tỉnh Gia Lai) về vấn đề quy hoạch treo và cấp quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở tại các dự án đô thị, khu chung cư.

Bộ trưởng Phạm Hồng Hà cho biết quy hoạch treo ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người dân, đặc biệt là việc làm, sinh kế và cải tạo nhà ở. Nguyên nhân chủ yếu chất lượng quy hoạch thấp, thiếu tầm nhìn, không lập đầy đủ quy hoạch liên quan đặc biệt hạ tầng kỹ thuật, xã hội, thiếu quy hoạch chi tiết 1/500, không xác định chi tiết nguồn lực đầu tư, chưa quản lý nghiêm túc, công khai quy hoạch lộ trình thực hiện, không kịp thời rà soát, năng lực chủ đầu tư yếu kém…

Năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị về tăng cường chấn chỉnh hoạt động quy hoạch, giao nhiệm vụ cụ thể có bộ ngành, địa phương. Bộ Xây dựng đã ban hành một số quy chuẩn kỹ về hạ tầng, nhà ở, hoàn thành cổng thông tin quy hoạch quốc gia.

Luật Quy hoạch đã có một số quy định đảm bảo đồng bộ một số quy hoạch, loại bỏ quy hoạch không phù hợp, giấy phép xây dựng, chứng chỉ quy hoạch… Luật Xây dựng có quy định nếu kế hoạch sử dụng đất cấp huyện đã công bố 3 năm không thực hiện thì người dân được cấp xây dựng có thời hạn về cải tạo, xây dựng mới….

Các địa phương đã rà soát lại quy hoạch, tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuậ, thu hồi dựa án treo như TPHCM thu hồi 176 dự án treo, Đà Nẵng 201 dự án treo, Quảng Nình rà soát hơn 1.000 quy hoạch chậm triển khai. Đây mới là kết quả bước đầu, phải tiếp tục thực hiện căn cơ. Các địa phương phải cso lộ trình cụ thể ; lập kế hoạch đầu tư phải bố trí đủ nguồn lực; bổ sung tiêu chuẩn quy chuẩn liên quan đến quy hoạch, thực hiện đầy đủ lấy ý kiến người dân, chuyên gia trong quá trình lập quy hoạch, tăng cường giám sát thực hiện…

Về việc chậm cấp quyền sử dụng đất, sở hữu nhà , Bộ trưởng Phạm Hồng Hà cho biết theo quy định 50 ngày sau khi bàn giao nhà thì chủ đầu tư phải thực hiện cấp và chế tài xử phạt vi phạm lên đến 1 tỷ đồng. Nguyên nhân là do chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục hoặc cố tình chậm trễ, chây ì.

Giải pháp được đưa ra là những dự án đã thực hiện xong thủ tục mà cố tình chây ì phải bị xử lý nghiêm khắc, thậm chí chuyển cơ quan điều tra. Những dự án còn thiếu 1 số thủ tục pháp lý cần phải giải quyết song song thủ tục tục pháp lý đồngthời thực hiện ngay việc cấp quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở. Các địa phương cần có báo cáo cụt hể để Bộ Xây dựn và Bộ TN&MT phối hợp giải quyết. Điều hcinrh quy định pháp luật về nghiệm thu nhà ở, công trình xây dựng , đảm bảo quyền sở hữu cho người dân, quy định chuyển nhượng chặt chẽ hơn.

* Trong ngày chất vấn đầu tiên (6/11), Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng các Bộ: Xây dựng; Giáo dục và Đào tạo; Thông tin và Truyền thông; Tư pháp; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Công an; Lao động - Thương binh và Xã hội; Nội vụ; Kế hoạch và Đầu tư; Tài nguyên và Môi trường; Giao thông Vận tải; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đã trả lời các câu hỏi chất vấn liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách.Đã có 112 đại biểu Quốc hội phát biểu thảo luận, có 18 đại biểu tham gia tranh luận về một số vấn đề được đại biểu, dư luận xã hội, cử tri quan tâm.

Những nội dung các đại biểu quan tâm chất vấn đều là vấn đề “nóng”, được cử tri và nhân dân quan tâm như: Giải pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian tới; nhiệm vụ, giải pháp ứng phó với thiên tai; kinh phí đổi mới chương trình sách giáo khoa; việc triển khai công nghệ 5G tại Việt Nam; những giải pháp căn cơ trong phòng, chống thiên tai; nguyên nhân cơ bản của hiện tượng lũ lụt tại miền Trung; giải pháp đối với vấn đề biến đổi khí hậu; những giải pháp tạo việc làm, đảm bảo đời sống cho người lao động; nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam; vấn đề liên kết phát triển vùng; đạo đức cán bộ, công chức, công vụ…

Theo VGP