|
| Với các nội dung được thông qua trong 51 Luật và 8 Nghị quyết của Trung ương, hệ thống luật pháp cơ bản “tháo nút thắt” thể chế, thay đổi theo tư duy mới, kiến tạo mở đường. Ảnh: Quý Bắc |
Năm 2025 khép lại với nhịp tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, những bước cải cách thể chế toàn diện, sự đổi thay vượt bậc của hạ tầng. Từ chặng đường đã qua, Giáo sư đánh giá như thế nào về nền tảng của nền kinh tế hiện nay trong việc tạo điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn tới?
Giai đoạn 2021 - 2025 là một chu kỳ kinh tế đầy biến động nhưng cũng chứng kiến sự kiên cường của Việt Nam. Từ một nền kinh tế bị "ngưng trệ" bởi đại dịch, Việt Nam đã thực hiện một cuộc lội ngược dòng để khẳng định vị thế là điểm sáng tăng trưởng của khu vực.
Đầu nhiệm kỳ, đại dịch Covid bùng phát, ảnh hưởng toàn thế giới và gây ra những thách thức chưa từng có tiền lệ, dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế, lạm phát tăng cao ở nhiều quốc gia, tác động bất lợi với kinh tế Việt Nam. Khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục tích cực thì chính sách thuế đối ứng của Mỹ và các bất ổn địa chính trị toàn cầu, thiên tai nặng nề đã giáng sức cản lớn, đe dọa đà tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy vậy, Việt Nam luôn giữ được vị thế là “ngôi sao sáng” trên bầu trời tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong giai đoạn đại dịch Covid, nhiều quốc gia tăng trưởng âm, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn giữ xu hướng đi lên với mức tăng trưởng thấp nhất là 2,58% vào năm 2021, sau đó liên tục phục hồi và tăng cao. Năm 2025, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn như vậy, song tăng trưởng kinh tế vẫn đạt trên 8,02%. Nền kinh tế liên tục hồi phục tích cực, tiềm lực ngày càng được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho đà tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030.
Cuối năm 2025, quy mô GDP Việt Nam đã vượt mốc 514 tỷ USD, tăng khoảng 2,6 lần so với 10 năm trước và tăng gần gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ. Tốc độ tăng trưởng ấn tượng này tương đồng với giai đoạn phát triển của một số quốc gia từ nước có thu nhập thấp sang nhóm quốc gia có thu nhập cao và phát triển tích cực sau đó. Việt Nam cũng đang tiếp cận quy luật này.
Điểm ấn tượng nhất trong cả giai đoạn vừa qua là kinh tế vĩ mô luôn ổn định, môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, trở thành điểm thu hút vốn đầu tư của thế giới và tạo tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, nền kinh tế bắt đầu có sự thay đổi theo một số động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh. Chủ trương đổi mới sáng tạo, phát triển mạnh khoa học công nghệ đã có những kết quả bước đầu, tạo điều kiện cho tăng trưởng cao dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tới.
Năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số” để khởi động đà tăng trưởng cao cho cả giai đoạn 2026 - 2030, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Để thực hiện mục tiêu này, nguồn lực tài chính được đánh giá là rất quan trọng. Ông đánh giá như thế nào về khả năng huy động nguồn lực tài chính cho mục tiêu tăng trưởng của giai đoạn 2026 - 2030?
Với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình lên đến 6,3% cho cả giai đoạn 2021 - 2025, quy mô và nguồn lực tài chính của nền kinh tế đã tăng mạnh so với giai đoạn trước. Về ngân sách nhà nước (NSNN), thu ngân sách tăng mạnh là nguồn lực quan trọng trước hết cho giai đoạn tiếp theo. Đáng chú ý, nguồn thu NSNN tăng mạnh, đồng thời cơ cấu thu tiếp tục chuyển dịch theo hướng bền vững, trong đó khu vực sản xuất kinh doanh giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, chi ngân sách được cơ cấu lại theo hướng tiết kiệm chi hành chính, tăng chi cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Chi đầu tư phát triển đạt khoảng 32 - 33% tổng chi NSNN, trong khi bội chi và nợ công được kiểm soát trong ngưỡng an toàn. Trong giai đoạn 2021 - 2025, NSNN dành nguồn lực lớn để miễn, giảm, gia hạn thuế, phí với tổng quy mô khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, thu NSNN tăng trưởng cao cùng với việc tiết kiệm chi đã tạo được nguồn vốn đầu tư lớn cho tăng trưởng. Tổng vốn đầu tư công dự kiến rót vào nền kinh tế năm 2026 lên mức 1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2025. Điểm tích cực là đầu tư công đang được điều tiết có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào nhiều công trình hạ tầng cốt lõi - xương sống, đặc biệt là hệ thống cao tốc, mạng lưới đường bộ kết nối, các cảng hàng không, cảng biển.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính mạnh mẽ từ thu NSNN tăng cao giúp Chính phủ chủ động trong việc điều hành, không bị áp lực bởi bội chi, từ đó giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát hiệu quả.
Ở khía cạnh khác, nguồn lực đầu tư từ xã hội vào nền kinh tế cũng rất lớn. Trong đó, vốn tín dụng từ ngân hàng cung ứng thêm vào nền kinh tế lên đến hơn 10 triệu tỷ đồng trong cả giai đoạn 2021 - 2025 đã đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng. Ngoài ra, vốn huy động từ thị trường chứng khoán cũng hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế và kỳ vọng nguồn vốn này sẽ đóng góp nhiều hơn khi thị trường chứng khoán được nâng hạng năm 2026, tạo sức hút với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, đồng thời thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ.
Một kênh huy động vốn tiềm năng khác là các quỹ đầu tư nhưng hoạt động còn rời rạc, chưa phát huy vai trò trong nền kinh tế đang phát triển mạnh như hiện nay. Để phát triển các quỹ đầu tư tại Việt Nam đạt đến quy mô tương xứng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030, cần một chiến lược đồng bộ từ phía Nhà nước và nội lực của các công ty quản lý quỹ. Trong đó, cần có các hướng dẫn cụ thể, các chính sách hỗ trợ hoạt động của các quỹ, xây dựng văn hóa “ủy thác đầu tư” để cải thiện tình trạng "thừa nhà đầu tư cá nhân, thiếu nhà đầu tư tổ chức" và thay đổi tư duy của người dân từ việc tự "lướt sóng" với rủi ro cao sang đầu tư dài hạn thông qua quỹ.
Bên cạnh nguồn lực tài chính từ NSNN và đầu tư xã hội, việc vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những kênh dẫn vốn mới. Theo ông, để định chế này đóng góp hiệu quả cho việc huy động vốn mới, thúc đẩy tăng trưởng, cần triển khai thực hiện như thế nào?
Xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) là mục tiêu chiến lược của Việt Nam nhằm nâng tầm vị thế kinh tế, thu hút dòng vốn ngoại và thúc đẩy dịch vụ tài chính cao cấp. Với hai địa điểm tiềm năng là TP.HCM và TP. Đà Nẵng, IFC được kỳ vọng trở thành địa điểm hút vốn của các nhà đầu tư quốc tế vào Việt Nam, khơi thông dòng chảy vốn từ các quỹ đầu tư, các tập đoàn tài chính lớn, các công ty công nghệ tài chính toàn cầu, vốn từ tài sản số, tài chính xanh.
Để làm được điều này thì IFC phải thật sự hấp dẫn với thể chế vượt trội, tạo sức hút, có tính cạnh tranh so với các trung tâm tài chính quốc tế hiện có trên thế giới và khu vực. Theo đó, rất cần cơ chế thông thoáng, thuận lợi để phát triển IFC thành một thế giới tài chính thu nhỏ với môi trường đầu tư an toàn.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư đến với IFC không đơn thuần chỉ là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận mà mong muốn được gắn bó với môi trường làm việc, sinh sống đảm bảo an toàn, thuận lợi cho cá nhân, gia đình. Đây cũng là lợi thế cạnh tranh nhờ điều kiện thiên nhiên, môi trường kinh tế - xã hội ổn định.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm thuận lợi và chủ trương phát triển cởi mở để thu hút đầu tư, cần lưu ý kiểm soát để tránh xáo trộn thị trường tài chính trong nước. Nói cách khác, phải có cơ chế kiểm soát để lựa chọn và áp dụng sản phẩm và cách thức vận hành phù hợp với Việt Nam. Mặt khác, cần tăng năng lực của doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước để tiếp cận và thích ứng với các thể chế quốc tế, luật lệ về quản trị của quốc tế. Từ đó, tận dụng dòng vốn và tránh rủi ro cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, nền kinh tế.
Cùng với tạo điều kiện huy động nguồn lực tài chính, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã và đang nỗ lực cải cách thể chế trên nhiều mặt, hướng tới cải cách nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng cao. Theo ông, nguồn lực thể chế cần tiếp tục được cải cách như thế nào trong thời gian tới?
Với các nội dung được thông qua trong 51 Luật và 8 Nghị quyết, gần như toàn bộ hệ thống luật pháp đã cơ bản “tháo nút thắt” thể chế, thay đổi theo tư duy mới, kiến tạo mở đường, khơi thông nguồn lực phát triển. Đây là lợi thế lớn cho giai đoạn phát triển tới đây. Tuy nhiên, để nền tảng pháp lý mới mang lại hiệu quả thiết thực với người dân, DN và nền kinh tế thì trong thực thi phải mạnh mẽ. Trước hết, phải bỏ hoàn toàn tư duy “không quản được thì cấm” bởi giai đoạn phát triển tới sẽ có nhiều yếu tố mới trong hoạt động của nền kinh tế mà chưa có quy định sẵn, có thể dẫn đến tình trạng nhiều cán bộ e ngại thực thi nên tìm cách cấm, làm triệt tiêu tinh thần đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, cần thay đổi cách thức thực thi pháp luật theo hướng từ quản lý tuân thủ sang khuyến khích cán bộ năng động dám nghĩ dám làm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Nói cách khác, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ người dân và DN vì sự phát triển của đất nước.
Mặt khác, phải xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho, chuyển từ quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm. Đơn cử, trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, việc đặt điều kiện kinh doanh nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, người dân, nhưng không quản lý theo kiểu “xin” để đủ điều kiện rồi sau đó DN được tùy tiện làm. Thay vào đó, cơ quan chức năng công bố các điều kiện kinh doanh, DN tự xét thấy đủ điều kiện thì làm, cơ quan chức năng thực hiện cơ chế hậu kiểm. Cách thực thi pháp luật như vậy sẽ góp phần xây dựng Nhà nước kiến tạo. Trong đó, cán bộ và bộ máy nhà nước thực hành công vụ, thực thi pháp luật nhằm bảo vệ và giúp người dân, DN thụ hưởng.
Để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế, nguồn nhân lực được đánh giá yếu tố then chốt. Theo ông, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam cần được cải thiện theo hướng nào để đáp ứng các yêu cầu phát triển?
Phát triển nguồn nhân lực là chìa khóa để chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên số lượng sang mô hình dựa trên chất lượng và đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế cao. Trong giai đoạn phát triển mới dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, cần có chiến lược bài bản để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Để làm được điều đó, cần xác định trọng tâm chiến lược phát triển nhân lực theo định hướng phát triển kinh tế. Chẳng hạn, nếu lựa chọn một trong những trọng tâm của phát triển kinh tế là công nghệ bán dẫn thì thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực theo hướng này bằng việc đầu tư mạnh vào các trung tâm đào tạo về AI, công nghệ bán dẫn, hoàn thiện hành lang pháp lý cho các hình thức làm việc mới. Đồng thời, đầu tư mạnh cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
Ở khía cạnh khác, để phát triển được nguồn nhân lực có năng lực tốt thì trước hết người quản lý phải có tư duy dẫn dắt trong xu thế phát triển mới của khoa học kỹ thuật, tạo động lực cho nhân sự ham muốn học hỏi, sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ. Nếu người lãnh đạo không đủ trình độ nắm bắt các xu thế phát triển mới thì có thể dẫn đến tình trạng ngăn cản sự nỗ lực và tính sáng tạo của nhân lực cấp dưới. Do đó, phát triển nguồn nhân lực không chỉ từ cấp thực thi, mà còn từ tầm nhìn của cấp lãnh đạo, nhân sự quản lý.
LÊ HƯỜNG thực hiện