Tạo đột phá chính sách thông qua sửa đổi Luật Đấu thầu

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Việc xây dựng và hoàn thiện Dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) lần này nhằm đồng bộ cơ chế, đổi mới chính sách, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện gói thầu, dự án; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.

Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực, qua đó đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng cao của đất nước. Ảnh: Lê Tiên
Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực, qua đó đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng cao của đất nước. Ảnh: Lê Tiên

Phóng viên Đấu thầu đã có cuộc trao đổi với ông Văn Trọng Duẩn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính) về những định hướng lớn và kỳ vọng khi Dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) được Quốc hội xem xét, thông qua.

00-16-3.jpg
Ông Văn Trọng Duẩn

Thưa ông, đợt sửa đổi Luật Đấu thầu lần này được cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu hết sức quan tâm. Xin ông chia sẻ mục tiêu và tinh thần cốt lõi của việc “làm mới” chính sách đấu thầu?

Mục tiêu, quan điểm xây dựng Dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) lần này trước hết là bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện thể chế, phân cấp, phân quyền, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội.

Một định hướng quan trọng là xây dựng Luật theo hướng luật khung, tập trung quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các chính sách, nguyên tắc lớn và những nội dung cần có tính ổn định lâu dài. Những vấn đề mang tính quy trình, kỹ thuật, thường xuyên biến động được giao Chính phủ quy định; những nội dung mang tính kỹ thuật chuyên ngành thì thực hiện theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực.

Nhưng điểm quan trọng hơn, theo tôi, là đổi mới tư duy quản lý hoạt động đấu thầu. Luật không nên cố gắng quy định chi tiết cách xử lý cho mọi tình huống phát sinh trong thực tiễn, mà cần xác lập rõ mục tiêu, nguyên tắc và giới hạn để người có thẩm quyền, chủ đầu tư có cơ sở chủ động quyết định và chịu trách nhiệm.

Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong việc trao quyền cho chủ đầu tư quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu. Dự thảo Luật xác định các hình thức lựa chọn và điều kiện áp dụng, trên cơ sở đó chủ đầu tư căn cứ tính chất, điều kiện thực tế của gói thầu, yêu cầu về tiến độ, chất lượng và hiệu quả để quyết định lựa chọn hình thức phù hợp. Dự thảo mới nhất đã thể hiện trực tiếp cách tiếp cận này trong quy định về chỉ định thầu. Có thể nói, lần sửa đổi này hướng tới sự chuyển đổi về phương thức quản trị: Nhà nước tập trung thiết lập nguyên tắc và công cụ kiểm soát; chủ đầu tư được trao quyền chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về hiệu quả của quyết định đó.

Phân cấp, phân quyền và tăng quyền tự chủ cho chủ đầu tư là một trong những định hướng lớn của Dự án Luật. Vậy Dự án Luật đã thiết kế cơ chế như thế nào để người thực thi có cơ sở chủ động quyết định, “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”?

Muốn phân cấp, phân quyền thực chất thì không chỉ đơn thuần là chuyển thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới. Quan trọng hơn là phải trao quyền quyết định đồng thời xác lập rõ nguyên tắc, giới hạn của quyền và trách nhiệm của người được trao quyền.

Đây là lý do Dự thảo Luật bổ sung một điều riêng về chính sách và nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đấu thầu. Dự thảo xác định hoạt động đấu thầu phải bảo đảm hiệu quả, minh bạch; bảo đảm cạnh tranh, công bằng đối với các hình thức có từ hai nhà thầu, nhà đầu tư trở lên tham dự; đồng thời bảo đảm quyền tự chủ, tự quyết định và chịu trách nhiệm của các chủ thể, gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát.

Tôi cho rằng đây là cơ sở rất quan trọng để người thực thi chủ động hơn. Bởi thực tiễn rất đa dạng, pháp luật không thể dự liệu tất cả tình huống và quy định sẵn một cách xử lý duy nhất. Luật xác định mục tiêu và nguyên tắc; người được trao quyền căn cứ điều kiện thực tế để lựa chọn giải pháp phù hợp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Qua đó, quản lý đấu thầu cũng từng bước chuyển từ việc quá chú trọng “quản lý quy trình” sang “quản lý dựa trên mục tiêu, kết quả và hiệu quả”. Khi quyền hạn rõ, nguyên tắc rõ và trách nhiệm rõ, người thực thi sẽ có cơ sở pháp lý tốt hơn để chủ động quyết định, thay vì lựa chọn phương án an toàn nhất về thủ tục nhưng chưa chắc mang lại hiệu quả tốt nhất cho gói thầu, dự án. Theo tôi, đây mới là nền tảng thực chất để khuyến khích cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.

Việc mở rộng quyền tự chủ, tự quyết của chủ đầu tư cũng đặt ra yêu cầu phải kiểm soát việc thực hiện quyền. Dự án Luật giải quyết bài toán như thế nào để vừa giảm tình trạng “xin - cho”, vừa hạn chế việc đặt ra các tiêu chí thiếu căn cứ, hạn chế cạnh tranh hoặc tạo lợi thế cho một nhà thầu cụ thể?

Theo tôi, cần xác định rất rõ: pháp luật trao quyền tự quyết cho chủ đầu tư không có nghĩa là trao quyền một cách tùy tiện. Muốn giảm tình trạng “xin - cho”, trước hết phải phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm. Việc gì pháp luật đã giao cho chủ đầu tư thì chủ đầu tư được quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó, thay vì phải xin ý kiến nhiều cấp, nhiều cơ quan để bảo đảm an toàn cho mình.

Dự thảo Luật vì vậy xác định nguyên tắc phân định chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu với trách nhiệm của người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu; đồng thời gắn quyền tự chủ, tự quyết với trách nhiệm giải trình, kiểm tra và giám sát.

Ở chiều ngược lại, quyền tự quyết phải được thực hiện trong khuôn khổ các nguyên tắc của Luật. Đối với những hình thức có cạnh tranh, phải bảo đảm cạnh tranh và công bằng giữa các nhà thầu. Vì vậy, các yêu cầu về kỹ thuật, năng lực, kinh nghiệm và tiêu chuẩn đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu, quy mô, tính chất và yêu cầu thực tế của gói thầu; không được đặt ra những điều kiện thiếu căn cứ nhằm hạn chế sự tham gia hoặc tạo lợi thế cho một nhà thầu cụ thể.

Dự thảo cũng tiếp tục xác định các hành vi không bảo đảm công bằng, minh bạch, trong đó có việc nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa trong hồ sơ mời thầu đối với các trường hợp Luật quy định, trừ trường hợp được phép.

Như vậy, tư duy của Dự án Luật là giảm việc xin ý kiến nhưng không giảm trách nhiệm; mở rộng quyền quyết định nhưng đồng thời tăng yêu cầu về căn cứ, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Có thể khái quát là giao đúng quyền để giảm “xin - cho”; xác lập rõ nguyên tắc để hạn chế tùy tiện; công khai và giải trình để kiểm soát việc thực hiện quyền.

00-16-2.jpg

Khi phân cấp, trao quyền mạnh hơn cho chủ đầu tư, cơ chế giám sát cũng phải thay đổi tương ứng. Dự án Luật định hướng như thế nào đối với công tác kiểm tra, giám sát và quản trị rủi ro nhằm phòng ngừa tiêu cực trong đấu thầu?

Đây là mặt còn lại và không thể tách rời của phân cấp, phân quyền. Trao quyền càng mạnh thì công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hậu kiểm càng phải hiệu quả.

Một định hướng quan trọng của Dự án Luật là tiếp tục đẩy mạnh số hóa, công khai và minh bạch thông tin trong hoạt động đấu thầu. Dữ liệu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được thiết kế theo hướng có khả năng truy xuất, kiểm tra, đối chiếu và kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu có liên quan. Khi dữ liệu đấu thầu được số hóa, công khai và lưu vết, chúng ta có điều kiện chuyển từ phương thức kiểm tra thủ công, dàn trải sang giám sát dựa trên dữ liệu và quản lý theo mức độ rủi ro.

Thay vì kiểm tra tất cả chủ đầu tư và tất cả gói thầu với mức độ như nhau, cơ quan quản lý có thể xây dựng các chỉ số để nhận diện những trường hợp có rủi ro cao, chẳng hạn mức độ cạnh tranh thấp kéo dài, một số nhà thầu thường xuyên trúng thầu tại cùng một chủ đầu tư, giá hoặc tỷ lệ giảm giá có dấu hiệu bất thường, thời gian lựa chọn nhà thầu bất thường hoặc kết quả thực hiện hợp đồng không tương xứng với kết quả lựa chọn nhà thầu. Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ công khai thông tin mà trở thành công cụ quản trị rủi ro.

Đây cũng là điều kiện để chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào những hoạt động có nguy cơ cao và quan tâm nhiều hơn đến tính minh bạch, hiệu quả sử dụng vốn, tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện hợp đồng, thay vì chỉ kiểm tra việc tuân thủ từng bước thủ tục.

Có thể khái quát mô hình quản lý mà chúng tôi hướng tới là: trao quyền để chủ động quyết định - số hóa để minh bạch - dữ liệu để nhận diện rủi ro - hậu kiểm để kiểm soát - trách nhiệm giải trình để quyền luôn đi cùng trách nhiệm.

Cá nhân ông kỳ vọng điều gì về những chuyển biến của thị trường đấu thầu Việt Nam sau khi Luật Đấu thầu (sửa đổi) được Quốc hội xem xét, thông qua?

Điều tôi kỳ vọng nhất không chỉ là giảm được bao nhiêu thủ tục hay rút ngắn được bao nhiêu ngày lựa chọn nhà thầu, mà quan trọng hơn là tạo ra sự thay đổi trong tư duy và hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu.

Đối với chủ đầu tư, tôi kỳ vọng chuyển từ tâm lý “làm đúng quy trình để an toàn” sang “chủ động lựa chọn phương án phù hợp và chịu trách nhiệm về hiệu quả của quyết định”.

Đối với nhà thầu, một môi trường đấu thầu công khai, minh bạch và cạnh tranh sẽ tạo động lực để cạnh tranh bằng năng lực thực chất, chất lượng, công nghệ, tiến độ và khả năng thực hiện hợp đồng.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, trọng tâm sẽ từng bước chuyển từ việc can thiệp vào từng quyết định cụ thể sang xây dựng thể chế, dữ liệu và công cụ quản trị rủi ro; tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm đối với những hoạt động có nguy cơ cao.

Nếu thực hiện đồng bộ những thay đổi đó, tôi tin rằng Luật Đấu thầu (sửa đổi) sẽ góp phần rút ngắn thời gian lựa chọn nhà thầu, đẩy nhanh tiến độ đưa dự án vào khai thác, nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực, qua đó khơi thông nguồn lực đầu tư và đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng cao của đất nước trong giai đoạn tới.

Đấu thầu suy cho cùng không phải là mục tiêu tự thân. Mục tiêu cuối cùng là lựa chọn được chủ thể phù hợp để thực hiện tốt nhất gói thầu, dự án và tạo ra hiệu quả cao nhất từ nguồn lực được sử dụng.

Kết nối đầu tư