Tăng trưởng kinh tế năm 2026: Kỳ vọng từ những chính sách mở đường

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Những quyết sách mạnh mẽ của Đảng, Quốc hội, Chính phủ nhằm đổi mới nền kinh tế toàn diện được kỳ vọng sẽ mở đường cho đà tăng trưởng “hai con số” trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần quyết liệt thực hiện các giải pháp cụ thể về nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, phát triển hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển.

Đẩy mạnh phát triển hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ khu vực tư nhân là những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh: Lê Vũ
Đẩy mạnh phát triển hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ khu vực tư nhân là những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh: Lê Vũ

Tại Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 vừa ban hành, Chính phủ nêu rõ quan điểm điều hành thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Đồng thời, đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, toàn diện hơn nữa trong quản lý kinh tế; phát triển các thành phần kinh tế, huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; nâng cao tự chủ chiến lược.

Nghị quyết 01 cũng yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong công tác xây dựng pháp luật, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước gắn với phân cấp, phân quyền; tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới, trên nền nền tảng các quyết sách đột phá từ một loạt nghị quyết của Bộ Chính trị, các nghị quyết của Quốc hội và khung khổ pháp lý đổi mới nhiều mặt.

Đó là Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai…

Giới phân tích đánh giá, các nghị quyết này tạo thành một hệ thống chiến lược đồng bộ, thúc đẩy Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đặc biệt, Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 bổ sung cho nhau, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng giữa 2 khu vực kinh tế lớn. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự đóng góp mạnh mẽ từ khu vực kinh tế tư nhân.

Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng, Việt Nam xây dựng kế hoạch tăng trưởng GDP từ 10% trở lên từ năm 2026, hướng tới trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 là một mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định và rủi ro khí hậu gia tăng. Mục tiêu này đóng vai trò như một kim chỉ nam cho các nỗ lực cải cách và mức độ hiện thực hóa sẽ phụ thuộc vào hiệu quả thực thi chính sách.

15.jpg
Sự phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế từ năm 2025 tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026. Ảnh: Thanh Huyền

Theo ông Shantanu Chakraborty, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao năm 2026. Đó là, đà phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 2025 với GDP đạt 8,02% tạo nền tảng vĩ mô ổn định và củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đồng thời, Chính phủ thể hiện cam kết cải cách thể chế, với các mục tiêu và chính sách rõ ràng nhằm thúc đẩy sản xuất, đầu tư, xuất khẩu, phát triển công nghệ và kích cầu nội địa. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức cả bên ngoài lẫn trong nước. Bên ngoài, căng thẳng thương mại toàn cầu gia tăng, bất ổn địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng, hàng hóa có thể làm suy giảm xuất khẩu, gia tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến niềm tin đầu tư.

“Yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam là đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, với trọng tâm là phát triển hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ khu vực tư nhân. Việc thực hiện các ưu tiên này một cách quyết liệt và hiệu quả sẽ mang tính quyết định, bởi nếu chậm trễ, nền kinh tế sẽ dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc bên ngoài”, ông Shantanu Chakraborty nhấn mạnh.

TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công của Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, tăng trưởng 2 con số không chỉ là quyết tâm chính trị mà còn được xây dựng trên cơ sở thực chất. Trước hết, đà tăng tốc của kinh tế Việt Nam trong năm qua đã chứng minh khả năng kiên cường vượt khó. Bên cạnh đó, nguồn lực tăng trưởng từ khu vực kinh tế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài duy trì tích cực. Mặt khác, khu vực kinh tế tư nhân cho thấy rõ năng lực và vị thế trong giai đoạn mới, thể hiện qua sức đóng góp tiếp tục trên 50% GDP và việc được giao thực hiện các dự án lớn. Năng lực hội nhập của Việt Nam ngày càng sâu rộng với 17 hiệp định tự do thương mại (FTA) đang được triển khai.

“Các nghị quyết của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội và khung khổ pháp lý mới ban hành đang mở đường cho các khu vực kinh tế tăng tốc, thúc đẩy đạt mục tiêu tăng trưởng cao. Bên cạnh đó, tôi kỳ vọng quá trình cải cách bộ máy, cải cách thể chế trên tinh thần kiến tạo sẽ khích lệ sự tham gia và đóng góp của người dân, doanh nghiệp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước”, ông Việt nhấn mạnh.

Kết nối đầu tư