Phát triển dự án hạ tầng mang tầm thế kỷ: Chung tay xây dựng “hệ sinh thái nhà thầu”

(BĐT) - Từ cao tốc Bắc - Nam, Cảng hàng không quốc tế Long Thành đến hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm, các nhà thầu xây dựng Việt Nam đã trưởng thành rõ rệt về năng lực thi công, huy động nguồn lực và quản trị dự án. Nhưng trước những công trình có quy mô, yêu cầu công nghệ và mức độ tích hợp ngày càng cao, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao, một nhà thầu mạnh là chưa đủ. Bài toán đặt ra là xây dựng một “hệ sinh thái nhà thầu” đủ sức chinh phục những công trình thế hệ mới.

Đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đòi hỏi sự kết nối, hợp tác của nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xây lắp, công nghiệp và công nghệ. Ảnh: Nhã Chi AI
Đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đòi hỏi sự kết nối, hợp tác của nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xây lắp, công nghiệp và công nghệ. Ảnh: Nhã Chi AI

Một thế hệ nhà thầu đang trưởng thành

Nhìn lại những năm gần đây, chưa bao giờ doanh nghiệp xây dựng Việt Nam cùng lúc hiện diện trên nhiều đại công trường như hiện nay. Từ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Vành đai 3 TP.HCM, Vành đai 4 - Vùng Thủ đô đến hàng loạt tuyến cao tốc trục ngang, cầu, hầm và hạ tầng kết nối vùng, quy mô đầu tư ngày càng lớn đã mở ra một “trường thực hành” chưa từng có cho nhà thầu trong nước. Nếu hồ sơ năng lực phản ánh kết quả doanh nghiệp đạt được, thì mỗi đại công trường là nơi kiểm chứng khả năng huy động nguồn lực, xử lý phát sinh và tổ chức thực hiện dự án.

Cao tốc Bắc - Nam là ví dụ điển hình. Trên những công trường trải dài qua nhiều địa phương, nhà thầu không chỉ giải bài toán kỹ thuật về cầu, hầm hay xử lý nền đất yếu, mà còn phải tổ chức hàng trăm mũi thi công, huy động lượng lớn thiết bị, nhân lực, kiểm soát vật liệu và phối hợp nhiều thành viên liên danh. Khi yêu cầu tốc độ được đẩy lên cao, chuỗi ngày thi công “3 ca, 4 kíp” xuyên lễ và ứng dụng công nghệ số để kiểm soát khối lượng, tiến độ đã trở thành một phần năng lực quản trị của nhà thầu. Đối với nhiều nhà thầu, yêu cầu phối hợp giữa nhiều gói thầu tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành đồng thời với việc triển khai các dự án cao tốc, vành đai đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị, huy động nguồn lực và điều hành nhiều công trường cách nhau hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km, buộc bộ máy quản trị của họ phải thay đổi.

Theo đại diện Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, giá trị quan trọng nhất sau mỗi dự án không chỉ là doanh thu hay khối lượng công việc hoàn thành, mà là đội ngũ kỹ sư trưởng thành qua thực tiễn, bộ máy điều hành được chuẩn hóa. Có những năng lực không thể hình thành chỉ bằng đầu tư thêm máy móc. Trải qua quá trình tổ chức thi công, xử lý các điểm nghẽn về kỹ thuật, vật liệu, tiến độ và phối hợp nhiều đầu mối thì đội ngũ mới thực sự trưởng thành. Đó nền tảng để doanh nghiệp hướng tới các lĩnh vực kỹ thuật cao như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, công trình ngầm, công trình biển đảo, sân bay và hạ tầng năng lượng.

Sau cao tốc Bắc - Nam, Cảng hàng không quốc tế Long Thành và nhiều công trình trọng điểm, câu hỏi không còn là nhà thầu Việt Nam có làm được hay không, mà là có thể làm chủ đến đâu. Theo một chuyên gia Đại học Xây dựng Hà Nội, giữa “làm được” và “làm chủ” là khoảng cách rất lớn. Doanh nghiệp có thể thi công theo thiết kế, công nghệ và tiêu chuẩn đã được xác lập, nhưng làm chủ một công trình đòi hỏi năng lực ở cấp độ cao hơn, từ thiết kế, lựa chọn và hấp thụ công nghệ, tích hợp hệ thống kỹ thuật đến quản trị chuỗi cung ứng, kiểm soát tiêu chuẩn và hình thành năng lực cho toàn bộ vòng đời dự án. Việc đảm nhận ngày càng nhiều hợp đồng EC (thiết kế và thi công xây dựng) hạ tầng là tín hiệu tích cực cho thấy năng lực của nhà thầu Việt đang từng bước được nâng lên.

Quá trình tham gia các đại công trường cũng giúp nhà thầu nhìn rõ hơn những khoảng trống của mình. Theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội các Nhà thầu xây dựng Việt Nam, nhà thầu Việt đã mạnh hơn về tổ chức thi công nhưng vẫn cần cải thiện nhiều về công nghệ, chuyên gia, thiết bị và thiết kế ở những lĩnh vực kỹ thuật đặc thù.

Một nhà thầu mạnh là chưa đủ

Khác với một tuyến cao tốc đường bộ, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam không đơn thuần là công trình giao thông, mà là một hệ thống kỹ thuật, công nghệ tích hợp. Thách thức vì thế không chỉ nằm ở năng lực thi công, mà còn ở khả năng kết nối nhiều lĩnh vực công nghiệp và công nghệ để hình thành một hệ thống hoàn chỉnh, an toàn và có độ tin cậy cao.

Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ là nhà thầu Việt Nam sẽ đảm nhận phần việc nào, mà còn là khả năng nội địa hóa vật liệu, thiết bị, công nghệ; đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và quan trọng hơn là giữ lại được năng lực gì sau mỗi dự án.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị cho chuỗi giá trị đường sắt. Bên cạnh các nhà thầu hạ tầng như Trường Sơn, Đèo Cả, Vinaconex, FECON, nhiều tập đoàn công nghiệp cũng tham gia với những thế mạnh riêng.

Một trong những bước đi rõ nét nhất đến từ Tập đoàn Hòa Phát. Tháng 12/2025, doanh nghiệp khởi công Nhà máy Sản xuất ray và thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất với tổng vốn đầu tư hơn 10.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 700.000 tấn/năm, dự kiến cho ra sản phẩm ray đường sắt tốc độ cao đầu tiên vào năm 2027. Ngoài ray, Hòa Phát còn định hướng sản xuất thép làm trục bánh xe tàu hỏa, tàu tốc độ cao và các dòng thép chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm.

Đó là một trong những mảnh ghép đầu tiên của "hệ sinh thái nhà thầu". Hệ sinh thái này không chỉ có doanh nghiệp xây lắp, mà còn bao gồm doanh nghiệp vật liệu, cơ khí chế tạo, công nghệ, tư vấn, tài chính, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ.

Bên cạnh Hòa Phát, VinSpeed đang hợp tác với Siemens Mobility nghiên cứu các giải pháp về đoàn tàu, tín hiệu, cấp điện và tích hợp hệ thống; THACO hợp tác với Hyundai Rotem để tiếp nhận công nghệ, phát triển tổ hợp công nghiệp đường sắt gồm sản xuất đầu máy, toa xe, đường thử và trung tâm sửa chữa. Các doanh nghiệp như Viettel, VNPT, FPT... cũng có tiềm năng tham gia vào hạ tầng viễn thông, dữ liệu, an toàn thông tin và hệ thống điều hành. Những bước đi này cho thấy chuỗi giá trị đường sắt đang mở rộng từ vật liệu sang cơ khí chế tạo và công nghệ.

Theo chuyên gia Đại học Xây dựng Hà Nội, trong những lĩnh vực Việt Nam chưa làm chủ công nghệ, hợp tác với các đối tác quốc tế là cần thiết. Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp trong nước được tham gia đủ sâu vào quá trình thực hiện. "Nếu chúng ta chỉ làm những phần việc quen thuộc, còn thiết kế, công nghệ và tích hợp hệ thống đều do đối tác nước ngoài đảm nhận thì sau khi dự án hoàn thành, năng lực doanh nghiệp trong nước sẽ không thay đổi nhiều", ông nói.

Xây dựng hệ sinh thái mạnh không phải nhiệm vụ của riêng nhà thầu. Việt Nam cần một nền tảng thể chế, tiêu chuẩn và lộ trình phát triển ngành đủ rõ; chương trình phát triển năng lực doanh nghiệp gắn với lộ trình đầu tư đường sắt tốc độ cao; đồng thời xác định sớm nhu cầu nhân lực, nhóm sản phẩm có thể nội địa hóa và cơ chế liên danh, chuyển giao công nghệ. Khung pháp lý mới đã mở ra môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư xây dựng. Nhưng trước những công trình thế hệ mới, điều quan trọng hơn là tạo cơ chế để các doanh nghiệp xây dựng, công nghiệp, công nghệ, đào tạo và nghiên cứu cùng trưởng thành qua thực tiễn dự án.

Kết nối đầu tư