Nợ “cần chú ý” vọt tăng tại nhiều ngân hàng

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Bức tranh tài chính nửa đầu năm 2026 của hệ thống ngân hàng cho thấy nhịp tăng của nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) áp đảo tốc độ mở rộng tín dụng tại hầu hết các nhà băng. Sự gia tăng của lớp nợ “chớm chậm trả” này phát đi tín hiệu cảnh báo sớm về “sức khỏe” tài chính của người vay cũng như áp lực quản trị chất lượng tài sản, tiềm ẩn rủi ro kích hoạt sự chuyển dịch cơ cấu nợ xấu nội bảng.

Nợ “cần chú ý” vọt tăng tại nhiều ngân hàng

Sự tương phản giữa tốc độ tăng nợ nhóm 2 (quá hạn từ 10 ngày đến dưới 90 ngày) và tăng trưởng tín dụng rõ nét ở nhóm ngân hàng có tăng trưởng tín dụng thấp hoặc trung bình. Tại Sacombank, trong khi tổng dư nợ cho vay khách hàng gần như đi ngang với mức tăng 1,54% (đạt 636.028,9 tỷ đồng), thì nợ nhóm 2 lại tăng tới 261,24%, nhảy vọt từ 4.658 tỷ đồng lên 16.826,7 tỷ đồng. Tỷ trọng nợ nhóm 2 trên tổng dư nợ của Sacombank từ 0,74% lên mức 2,65%.

Tương tự, tại ACB, 6 tháng đầu năm nay, tín dụng tăng trưởng ở mức 8,59% (đạt 745.759 tỷ đồng), nhưng nợ nhóm 2 tăng 93,40% (lên hơn 4.821 tỷ đồng), nâng tỷ trọng nợ nhóm 2 từ 0,36% lên 0,65%.

Xu hướng nợ nhóm 2 tăng gấp nhiều lần tốc độ mở rộng dư nợ diễn ra phổ biến tại khối ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn và vừa.

Tại Techcombank, dư nợ cho vay tăng 9,95% (lên 795.813,13 tỷ đồng), nhưng nợ nhóm 2 tăng 46,43% (lên 5.640,76 tỷ đồng), khiến tỷ trọng nhóm nợ này nhích từ 0,53% lên 0,71%. Tại OCB, mặc dù dư nợ cho vay tăng trưởng tích cực 10,86% (đạt 220.345 tỷ đồng), nợ nhóm 2 lại tăng 49,85% (lên 5.208 tỷ đồng), làm tỷ lệ nợ nhóm 2 so với dư nợ tăng từ 1,75% lên 2,36%. Tại HDBank, trong bối cảnh dư nợ tín dụng mở rộng ở mức 20,61% (đạt 659.000 tỷ đồng), nợ nhóm 2 vẫn tăng tới 64,79% (lên 30.969 tỷ đồng), đẩy tỷ lệ nợ nhóm 2 trên tổng dư nợ từ 3,44% lên 4,70%.

Dữ liệu tương tự cũng được ghi nhận tại TPBank (tín dụng tăng 10,57%, nợ nhóm 2 tăng 26,94% lên 6.390,2 tỷ đồng), LPBank (tín dụng tăng 9,63%, nợ nhóm 2 tăng 39,20% lên 5.341 tỷ đồng), KienlongBank (tín dụng tăng 8,42%, nợ nhóm 2 tăng 30,76% lên 1.090,6 tỷ đồng)…

Một số ngân hàng trong nhóm Big 4 cũng có đà tăng nợ nhóm 2 bỏ xa tốc độ bơm vốn ra nền kinh tế. Cụ thể, Vietcombank ghi nhận tăng trưởng tín dụng khiêm tốn 5,06% (đạt 1,758 triệu tỷ đồng), nhưng nợ nhóm 2 lại tăng vọt 64,59%, đẩy tỷ lệ nợ nhóm 2 từ 0,16% lên 0,25%. Tại VietinBank, tín dụng tăng 5,04% (đạt 2,09 triệu tỷ đồng), trong khi nợ nhóm 2 tăng 12,79% (lên 19.564 tỷ đồng). Tại Agribank, tổng dư nợ cho vay đạt hơn 2,067 triệu tỷ đồng, tăng 4,79%, nhưng nợ nhóm 2 lại tăng 14,56%.

Trong bối cảnh làn sóng gia tăng nợ nhóm 2 diễn ra trên diện rộng, số liệu cho thấy có một số trường hợp ngoại lệ đi ngược xu hướng chung là ABBank, SHB và BIDV. Tại ABBank, mặc dù tín dụng bùng nổ ấn tượng 18,55% (lên 135.016,10 tỷ đồng), nợ nhóm 2 lại chỉ tăng khiêm tốn 2,16%, giúp tỷ trọng nợ nhóm 2/dư nợ giảm từ 0,76% xuống 0,66%. Tại SHB, nợ nhóm 2 gần như đi ngang khi chỉ tăng 0,05%, trong khi tín dụng tăng trưởng 7,28%, kéo tỷ lệ nợ nhóm 2 giảm từ 0,67% xuống 0,62%. Trong khi đó, tại BIDV, dư nợ cho vay tăng 5,43% (đạt 2,50 triệu tỷ đồng), còn nợ nhóm 2 lại ghi nhận giảm nhẹ 2,80%, kéo tỷ trọng nợ nhóm 2/dư nợ giảm từ 1,33% xuống 1,22%.

Tuy nhiên, việc nợ nhóm 2 giảm hoặc tăng chậm tại một số ngân hàng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng triệt tiêu, mà có thể liên quan đến sự chuyển dịch trực tiếp của dòng nợ sang các phân lớp khác.

Đi đôi với sự phình lên của nợ nhóm 2, chất lượng tài sản tổng thể của hệ thống ngân hàng trong nửa đầu năm 2026 cũng suy giảm, thể hiện qua quy mô nợ xấu nội bảng (từ nhóm 3 đến nhóm 5) gia tăng tại phần lớn các tổ chức tín dụng.

Tại Sacombank, tổng nợ xấu tăng 19,48%, kéo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ leo lên mức rất cao 7,54% (so với 6,41% đầu năm). Tương tự, tại TPBank, tổng nợ xấu tăng 59,43%, đẩy tỷ lệ nợ xấu từ 1,29% lên 1,86%. HDBank ghi nhận quy mô nợ xấu tăng 38,08%, làm tỷ lệ nợ xấu nhích từ 2,44% lên 2,79%. OCB và BVBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lần lượt tăng lên 3,49% (từ 3,19%) và 3,22% (từ 3,01%), đều vượt ngưỡng an toàn thông thường 3%.

Theo đánh giá của Công ty xếp hạng tín nhiệm VISRating, rủi ro tài sản lan rộng sang nhiều ngân hàng, khi chi phí lãi vay cao và môi trường kinh doanh khó khăn làm suy giảm khả năng trả nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn toàn ngành tăng lên 3,8% trong 6 tháng đầu năm 2026 từ mức 3,3% cả năm 2025, do áp lực suy giảm khả năng trả nợ gia tăng ở cả nhóm khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp.

Tình trạng quá hạn tại phân khúc khách hàng cá nhân đã lan rộng từ ngân hàng nhỏ và vừa (như OCB, LPBank, Saigonbank, KienlongBank, ABBank) sang một số ngân hàng lớn (như Techcombank); đặc biệt là đối với các khoản vay mua nhà và/hoặc hộ kinh doanh. Mặt bằng lãi suất cao là một gánh nặng gây áp lực lên khả năng trả nợ gốc của nhóm khách hàng này.

Rủi ro nhóm khách hàng doanh nghiệp cũng tăng tại một số ngân hàng lớn (như HDBank, Sacombank, VietinBank), đặc biệt ở các nhóm ngành bất động sản, thực phẩm và đồ uống và nông nghiệp.

VIS Rating dự đoán, rủi ro tài sản toàn ngành tiếp tục ở mức cao trong nửa cuối năm 2026 với bối cảnh lãi suất neo cao. Áp lực sẽ rõ nét hơn tại các ngân hàng có tỷ trọng bán lẻ lớn và tăng trưởng nhanh cho vay bất động sản rủi ro cao.

Chất lượng tài sản ngân hàng luôn là một nội dung được Chính phủ lưu tâm với hệ thống ngân hàng. Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và hệ thống các tổ chức tín dụng mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nâng cao năng lực quản trị, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, nâng cao năng lực tài chính, ý thức chấp hành nghiêm quy định pháp luật, kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động ngân hàng…; tuân thủ các giới hạn an toàn, chất lượng tín dụng, kiểm soát nội bộ, các giao dịch với cổ đông, người có liên quan.

Kết nối đầu tư