|
| Luật Đấu thầu năm 2023 đã quy định lộ trình chuyển dịch sang mô hình mua sắm trọn gói theo số lượng dịch vụ kỹ thuật . Ảnh minh họa: Nhã Chi |
Trước thời điểm 31/12/2028, việc mua sắm theo kết quả đầu ra được khuyến khích thực hiện, nhưng sau 31/12/2028 thì đây là hình thức bắt buộc thực hiện. Nhiều ý kiến cho rằng, cần có giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy các chủ đầu tư, nhà thầu chuyển dần sang hình thức mới, do thời hạn bắt buộc áp dụng đang đến gần.
Luật đã cho phép, vì sao chưa áp dụng?
Theo thống kê từ Cục Hạ tầng và TBYT thuộc Bộ Y tế, từ đầu năm 2026 đến nay, Cục đã nhận được 264 góp ý, kiến nghị liên quan đến TBYT từ các cơ sở y tế và cộng đồng doanh nghiệp.
Phản ánh từ các cơ sở y tế cho thấy nhiều điểm nghẽn lớn trong bảo trì, sửa chữa TBYT như: thiếu linh kiện thay thế; chi phí cao; thời gian sửa chữa kéo dài ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn… do bị phụ thuộc hoàn toàn vào hãng sản xuất. Việc thanh toán Bảo hiểm y tế liên quan đến mô hình “máy đặt, máy mượn” gặp nhiều vướng mắc, khó khăn…
Đại diện Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Y tế cho biết, thị trường TBYT hiện xuất hiện tình trạng phân chia địa bàn; một thiết bị được báo giá khác nhau làm căn cứ dự thầu cho các chủ thể khác nhau. Về phía chủ đầu tư, HSMT có tình trạng định hướng, tạo thuận lợi cho nhà thầu “ruột” trúng thầu.
Liên quan đến TBYT, thực tế Luật Đấu thầu năm 2023 đã quy định lộ trình chuyển dịch sang mô hình mua sắm trọn gói theo số lượng DVKT. Điểm b Khoản 1 Điều 55 của Luật quy định, nhà thầu cung cấp hoá chất, vật tư, thiết bị, linh kiện và dịch vụ để vận hành trọn gói theo số lượng DVKT yêu cầu (không cung cấp nhân công vận hành); nhà thầu chuyển giao quyền sử dụng, không chuyển giao quyền sở hữu TBYT cho chủ đầu tư; giá xác định trên số lượng DVKT dự kiến và thời gian thực hiện hợp đồng không quá 5 năm.
Lợi ích cốt lõi của mô hình mới, theo ông Nguyễn Hải Hà, Trưởng phòng Vật tư TBYT của Bệnh viện Nhi Trung ương, là giúp bệnh viện tối ưu và kiểm soát chi phí (đơn giá trọn gói, không phát sinh ngoài hợp đồng); nhà thầu chịu trách nhiệm về hỏng hóc, linh kiện, dịch vụ bảo trì (chuyển giao rủi ro); bệnh viện không cần bỏ vốn đầu tư lớn ban đầu nhưng vẫn tiếp cận được công nghệ mới; đảm bảo dịch vụ không bị gián đoạn, giảm tải thủ tục đấu thầu lắt nhắt hàng năm.
Lợi ích được nhận diện rõ, nhưng cho đến nay, chỉ có lác đác vài cơ sở y tế áp dụng hình thức mua sắm trọn gói theo số lượng DVKT. Mới đây nhất, Bệnh viện Thanh Nhàn (TP. Hà Nội) vừa mở Gói thầu Mua sắm DVKT xét nghiệm năm 2026 - 2028 với 28 phần/lô cho 123 kỹ thuật. Giá gói thầu là 83,739 tỷ đồng và còn dự kiến áp dụng tuỳ chọn mua thêm với trị giá 25,121 tỷ đồng. Trong đó, Chủ đầu tư cần mua 200.000 test/mẫu/lượt xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (bằng máy đếm laser); từ 100 đến 206.500 test/mẫu/lượt các loại xét nghiệm sinh hóa; 88.100 test/mẫu/lượt xét nghiệm khí máu; 56.000 test/mẫu/lượt xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu… Gói thầu thu hút 15 nhà thầu tham dự, với Công ty TNHH Thiết bị Minh Tâm tham dự 14 phần/lô với tổng giá dự thầu là 37,789 tỷ đồng; Công ty CP Liên hiệp Đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam tham dự 6 phần/lô với tổng giá dự thầu là 30,972 tỷ đồng; Công ty TNHH Thương mại Tâm Long tham dự 2 phần/lô với tổng giá dự thầu là 13,53 tỷ đồng…
Tương tự, Bệnh viện Đại học Đa khoa Trà Vinh dự kiến mở thầu vào ngày 15/7/2026 Gói 16-2026: Cung cấp TBYT, hóa chất, vật tư xét nghiệm và các dịch vụ đi kèm để vận hành TBYT (không bao gồm nhân công vận hành) theo số lượng DVKT phục vụ hoạt động khám chữa bệnh năm 2026-2028 (gồm 13 hạng mục, chia 3 phần) với giá 3,911 tỷ đồng.
Ngoài 2 gói thầu đáng kể trên, ghi nhận từ Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia cho thấy, số gói thầu mua sắm theo số lượng DVKT còn rất hạn chế, chủ yếu ở hai nhóm: mua sắm DVKT xét nghiệm cho các gói thầu khám sức khoẻ định kỳ; gói thầu xét nghiệm đơn lẻ (thiết bị chỉ dùng cho 01 loại dịch vụ hoặc chỉ sử dụng cho 01 loại hoá chất/vật tư).
Lời giải cho bài toán “ngại thay đổi”
Mặc dù mô hình “máy đặt, máy mượn” 0 đồng bộc lộ nhiều hạn chế, nhưng nhiều cơ sở y tế vẫn đã và đang làm theo cách này, do tâm lý ngại khó trong việc xác định giá gói thầu, dự báo số lượng và quản lý hoá chất hao hụt nếu làm theo phương án mới.
Trước thực tế trên, lãnh đạo Vụ Kế hoạch - Tài chính thuộc Bộ Y tế nêu quan điểm, mô hình “máy đặt, máy mượn” sẽ chính thức kết thúc sau ngày 31/12/2028. Thời gian không còn nhiều, các chủ thể liên quan phải chủ động thay đổi, sớm điều chỉnh để thích nghi dần với cách thức mua sắm mới. Bản chất của “máy đặt, máy mượn” không phải là “0 đồng”, bệnh viện được sử dụng miễn phí, mà tất cả đã được nhà thầu tính vào chi phí khấu hao thiết bị, hoá chất, thay thế linh kiện, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng…
Để chuyển đổi thành công, nhiều chuyên gia khuyến nghị, mỗi bệnh viện cần xây dựng cơ sở dữ liệu, tổng hợp sản lượng xét nghiệm từ 3 - 5 năm trước để làm căn cứ dự báo nhu cầu, xác định giá và giải trình. Mỗi bệnh viện cũng cần xây dựng quy trình vận hành thiết bị, quy trình xét nghiệm, quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, để từ đó xác định định mức tiêu hao.
Các bệnh viện có sản lượng lớn, ổn định và nhu cầu thị trường thường xuyên thì cần phân loại danh mục, ưu tiên đấu thầu lựa chọn nhóm DVKT có số lượng lớn, ổn định (sinh hoá, huyết học); cân nhắc kỹ tới các xét nghiệm chuyên sâu, hiếm, gen. Đối với những cơ sở y tế có nhu cầu xét nghiệm nhỏ, lẻ, các địa phương có thể gom vào thành một gói thầu để mua sắm tập trung theo khu vực.
Để nâng tỷ trọng cơ sở y tế thực hiện mua sắm dịch vụ kỹ thuật y tế trọn gói, ông Nguyễn Hải Hà khuyến nghị Bộ Y tế cần tăng cường đào tạo, tập huấn về xây dựng mẫu HSMT; đồng thời triển khai thí điểm tại một số bệnh viện, từ đó nhân rộng mô hình cho các đơn vị khác học tập.
Về phía nhà thầu, để tạo niềm tin với chủ đầu tư, nhà thầu phải có cam kết rõ ràng về thời gian đáp ứng xử lý sự cố và thay thế thiết bị, vật tư; duy trì thiết bị dự phòng cho hệ thống xét nghiệm trọng yếu; công khai chỉ số chất lượng dịch vụ để cơ sở y tế giám sát. Nhà thầu cần xây dựng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật tốt (tăng cường kỹ sư ứng dụng, kỹ sư bảo trì; vận hành, ứng dụng giám sát từ xa để phát hiện sớm các nguy cơ gián đoạn). Nghĩa là cạnh tranh phải bằng chất lượng dịch vụ, chứ không chỉ là bán thiết bị trá hình.