|
| Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Tờ trình Dự án Luật tại phiên họp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, sau hơn 3 năm triển khai thi hành, Luật Dầu khí năm 2022 đã từng bước phát huy hiệu quả, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dầu khí, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy đầu tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đảm bảo an ninh năng lượng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, biến động của thị trường năng lượng và thực tiễn triển khai, một số quy định cần tiếp tục được hoàn thiện để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành dầu khí.
Cùng với việc kế thừa các quy định tiến bộ của Luật hiện hành, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) cụ thể hóa 5 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP, bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon. Đồng thời, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Dự thảo Luật có 12 chương, 62 điều (so với Luật Dầu khí hiện hành gồm 11 chương, 69 điều). Trong đó, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về điều tra cơ bản về dầu khí, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng dầu khí, hoạt động dầu khí, ưu đãi đầu tư, kế toán, kiểm toán và chức năng, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.
Đáng chú ý, dự thảo Luật bổ sung các quy định về khai thác tận thu; khung pháp lý về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS); dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của ngành dầu khí.
Việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên dầu khí; đồng thời từng bước mở rộng không gian phát triển của ngành dầu khí gắn với dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Trình bày báo cáo thẩm tra Dự án Luật (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí với sự cần thiết như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.
Về hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO2; ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao; phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với triển khai hoạt động dầu khí, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý toàn diện, dài hạn để triển khai có hiệu quả các dự án CCS và dự án năng lượng ngoài khơi độc lập.
Về các quy định tăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam, các quy định của dự thảo thể hiện sự thay đổi lớn về mô hình quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn, không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật.
Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ, dự thảo đã sửa theo hướng Bộ Công Thương là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nội dung hợp đồng. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý đặc thù, bảo đảm hiệu quả, đồng bộ, phân định rõ ràng theo từng nhóm chủ thể.
Theo đó, Ủy ban đề nghị rà soát nội dung phân quyền cho Bộ Công Thương, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền theo Luật Tổ chức Chính phủ, xác định rõ trách nhiệm xuyên suốt của Bộ trong quản lý nhà nước về dầu khí và đối với nội dung hợp đồng được ký kết.
Đối với thẩm quyền chấp thuận chủ trương dự án phát triển, phát triển mỏ có chuỗi đồng bộ công trình, thiết bị trên đất liền và trên biển, cần có quy định rõ ràng, cơ sở pháp lý vững chắc vì liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và loại quy hoạch khác nhau.
Đồng thời, rà soát việc giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia bảo đảm hợp lý, khả thi; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế và điều kiện tương xứng để thực hiện nhiệm vụ được giao.