|
| Gói thầu Cung cấp, lắp đặt thiết bị y tế có giá 356,937 tỷ đồng, thuộc Dự án Đầu tư trang thiết bị y tế Khối nhà A Bệnh viện Trưng Vương (TP.HCM). Ảnh minh họa: Tiên Giang |
Băn khoăn về xuất xứ thiết bị
Gói thầu Cung cấp, lắp đặt thiết bị y tế thuộc Dự án Đầu tư trang thiết bị y tế Khối nhà A Bệnh viện Trưng Vương do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng (QLDA ĐTXD) các công trình dân dụng và công nghiệp TP.HCM làm chủ đầu tư. Gói thầu có giá 356,937 tỷ đồng, áp dụng hợp đồng trọn gói, thời gian thực hiện 270 ngày. Theo thông báo mời thầu, Gói thầu dự kiến mở thầu vào 9 giờ ngày 14/9/2026.
Theo Chương V của HSMT, đối với 15 danh mục thiết bị tại các mục có số thứ tự 17, 21, 29, 39, 41, 48, 53, 65, 71, 79, 80, 81, 82, 91 và 105, ngoài đáp ứng yêu cầu về cấu hình, tính năng kỹ thuật chi tiết, hàng hóa còn phải đáp ứng yêu cầu về xuất xứ.
Trong đó, nhiều thiết bị như bơm tiêm điện, giường bệnh cấp cứu, máy bào da, máy đo cung lượng tim PICCO, máy đúc mô, máy phá rung tim, máy siêu âm tim, các máy X-quang... được yêu cầu “xuất xứ máy chính: thuộc các nước G7 hoặc châu Âu”. Riêng “hệ thống monitor trung tâm + 16 monitor” và “kính hiển vi phẫu thuật thần kinh” được quy định “xuất xứ máy chính hoặc hãng chủ sở hữu thuộc các nước G7 hoặc châu Âu”.
Các quy định trên đã làm phát sinh đề nghị làm rõ từ nhà thầu. Đối với thiết bị kính hiển vi phẫu thuật thần kinh, một nhà thầu cho biết, theo cấu hình kỹ thuật, có tối thiểu 2 hãng đáp ứng là Dräger (Đức) và Philips (Hà Lan). Tuy nhiên, trong chuỗi cung ứng thiết bị y tế hiện nay, nhà máy sản xuất một số dòng sản phẩm của các tập đoàn thuộc G7 hoặc châu Âu có thể được đặt tại các quốc gia châu Á.
Nhà thầu dẫn trường hợp dòng monitor của Drägerwerk AG & Co. KGaA (Đức) được sản xuất tại Trung Quốc bởi một công ty thành viên của Tập đoàn Dräger. Theo lập luận của nhà thầu, dù có xuất xứ Trung Quốc, sản phẩm vẫn mang thương hiệu Dräger và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của Tập đoàn. Từ đó, nhà thầu đề nghị Chủ đầu tư xác nhận trường hợp sản phẩm có thương hiệu/hãng chủ sở hữu thuộc G7 hoặc châu Âu nhưng xuất xứ tại quốc gia khác có đáp ứng yêu cầu của HSMT hay không.
Ngoài ra, tại Phụ lục cấu hình và tính năng kỹ thuật chi tiết thiết bị y tế kèm Biên bản họp Hội đồng Khoa học Công nghệ ngày 10/8/2026, yêu cầu đối với thiết bị này được thể hiện theo hướng “xuất xứ hoặc thương hiệu hoặc hãng chủ sở hữu” thuộc các quốc gia G7 hoặc châu Âu. Nhà thầu đề nghị làm rõ sự khác nhau trong cách thể hiện giữa tài liệu này với HSMT được phát hành sau đó.
Theo một chuyên gia y tế tại TP.HCM, trong bối cảnh chuỗi sản xuất mang tính toàn cầu, quốc gia của chủ sở hữu thương hiệu và nơi sản xuất một dòng sản phẩm cụ thể không phải lúc nào cũng trùng nhau. Vì vậy, cách xác lập yêu cầu xuất xứ trong HSMT cần được xem xét cùng yêu cầu về công nghệ, thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, điều kiện lưu hành và nhu cầu chuyên môn của đơn vị sử dụng.
Nhìn từ góc độ cạnh tranh ý kiến chuyên gia cho rằng, Chủ đầu tư cần làm rõ cơ sở chuyên môn và khảo sát thị trường khi lựa chọn 15 danh mục thiết bị áp dụng yêu cầu xuất xứ G7/châu Âu; đồng thời, với mỗi yêu cầu, thực tế có bao nhiêu hãng, sản phẩm có khả năng đáp ứng.
Loạt thông số kỹ thuật chờ được xác nhận
Bên cạnh xuất xứ, các văn bản đề nghị làm rõ còn đề cập một số thông số kỹ thuật mà nhà thầu cho rằng cần được xác nhận để có cơ sở lập HSDT.
Đơn cử, tại mục 34.1 (Hệ thống phẫu thuật nội soi ổ bụng (khớp)), HSMT yêu cầu lưỡi bào khớp có đường kính khoảng 4,5 - 5 mm, nhưng “chiều dài hoạt động 130 cm”. Yêu cầu tương tự được đưa ra với lưỡi mài xương. Nhà thầu cho rằng đơn vị “cm” có khả năng là sai sót trong quá trình soạn thảo và đề nghị Chủ đầu tư xác nhận việc chào lưỡi bào khớp, lưỡi mài xương có chiều dài hoạt động 130 mm có phù hợp hay không.
Ở mục 64 (Máy ly tâm đa năng), HSMT yêu cầu thiết bị “có tính năng khóa nắp khẩn cấp”. Nhà thầu cho rằng trong quá trình rotor hoạt động, nắp máy vốn được khóa để bảo đảm an toàn; còn trong trường hợp đặc biệt như mất điện hoặc xảy ra sự cố, thiết bị cần cơ chế mở khóa nắp khẩn cấp sau khi rotor dừng. Vì vậy, nhà thầu đề nghị xác nhận thiết bị “có tính năng mở khóa nắp khẩn cấp” có được xem là đáp ứng yêu cầu hay không.
Đối với mục 91 (Băng ca vận chuyển bệnh nhân), HSMT thể hiện kích thước đệm “dài x rộng x dày: ≥ 70 x 200 x 10 cm”. Nhà thầu đề xuất điều chỉnh kích thước thành ≥ 200 x 70 x 10 cm. Về yêu cầu đường kính bánh xe ≥ 150 cm, nhà thầu đề xuất xác nhận lại thành ≥ 150 mm.
Phía nhà thầu đặt nhiều câu hỏi về tên gọi một số dụng cụ phẫu thuật. Chẳng hạn, “đưa xương Putti hoặc tương đương” được đề nghị làm rõ khả năng chấp nhận “dũa xương Putti”; “kìm giữ xương Blumenthal hoặc tương đương” được đề nghị xác nhận khả năng chào “kìm gặm xương Blumenthal” khi chức năng sử dụng được nhà thầu cho rằng tương ứng.
Những khác biệt về đơn vị đo, tên gọi hay cách diễn đạt tính năng thoạt nhìn có thể là những chi tiết kỹ thuật nhỏ. Tuy nhiên, Chương III HSMT quy định đánh giá kỹ thuật theo phương pháp đạt/không đạt, trong đó đặc tính, thông số kỹ thuật của hàng hóa là một trong những căn cứ đánh giá. Mặt khác, chính Chương V yêu cầu nhà thầu lập bảng kê khai thông số kỹ thuật của thiết bị dự thầu; trường hợp đề xuất thiết bị có thông số khác yêu cầu của HSMT, nhà thầu phải giải trình, cam kết về mục đích đề xuất và tính ưu việt để Chủ đầu tư có cơ sở xem xét, đánh giá. Các thông số kỹ thuật, yêu cầu đang có cách hiểu khác nhau cần được minh định để tránh khả năng làm khó nhà thầu.
Được biết, đơn vị tư vấn lập HSMT, đánh giá HSDT gói thầu này là Công ty TNHH Tư vấn và Thẩm định công nghệ Quốc gia. Công ty TNHH Nghiên cứu chế tạo và chuyển giao công nghệ thiết bị Y tế là tư vấn thẩm định HSMT và thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu.