Chính phủ ban hành Nghị quyết gỡ vướng dự án BT chuyển tiếp

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP ngày 7/4/2026 Quy định về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức xây dựng – chuyển giao (BT). Hàng loạt dự án BT chuyển tiếp gặp khó khăn, vướng mắc do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước sẽ có cơ chế tháo gỡ, sớm đưa công trình, nguồn lực đất đai vào khai thác, tránh lãng phí.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Chỉ xem xét tháo gỡ nếu do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước

Phạm vi điều chỉnh là các dự án đầu tư theo hình thức BT được thực hiện trước thời điểm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành (gọi tắt là dự án BT chuyển tiếp); áp dụng đối với danh mục dự án BT chuyển tiếp quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Nghị quyết nêu rõ các nguyên tắc khi thực hiện để vừa tháo gỡ khó khăn, vừa không để xảy ra trục lợi chính sách, hợp pháp hóa sai phạm. Trong đó, thực hiện theo kết luận thanh tra đã có hiệu lực thi hành (nếu có) và các quy định tại Nghị quyết này. Trường hợp có nội dung khác nhau giữa kết luận thanh tra và quy định tại Nghị quyết này thì thực hiện theo Nghị quyết này. Chỉ xem xét, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước. Kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng chính sách, quy định tại Nghị quyết này để trục lợi, tham nhũng, tiêu cực, hợp pháp hóa sai phạm; không để sai chồng sai, không để phát sinh sai phạm mới; không để xảy ra lãng phí hoặc gây thất thoát tài sản nhà nước. Tách bạch việc xử lý trách nhiệm của các tổ chức cá nhân, vi phạm với việc áp dụng các quy định tại Nghị quyết này để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với từng dự án, công trình, đất đai nhằm sớm đưa công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và nguồn lực đất đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí.

Về điều kiện áp dụng, các dự án BT chuyển tiếp phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Nghị quyết. Theo đó, các dự án phải được báo cáo, tổng hợp trên Hệ thống thông tin quốc gia về cơ sở dữ liệu các dự án đầu tư khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài (Hệ thống 751), các dự án tại Phụ lục I không cần đáp ứng điều kiện này. Đồng thời, đã có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc đã có văn bản kết luận của cấp có thẩm quyền về việc không phải thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dự án và nội dung hợp đồng dự án. Các Bộ, UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc thực hiện thanh tra đối với dự án và chịu trách nhiệm toàn diện với quyết định của mình.

Xác định giá đất thanh toán tại thời điểm giao đất

Nghị quyết quy định rõ phương án xử lý đối với từng nhóm dự án BT chuyển tiếp, gồm dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết; có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết; có giá trị quỹ đất thanh toán dự kiến tại hợp đồng dự án khác với giá trị quỹ đất thực tế tại thời điểm thanh toán; dự án đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa ký kết hợp đồng hoặc đã ký kết hợp đồng nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình BT; dự án phải điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi. Nghị quyết cũng hướng dẫn phương án xử lý trong trường hợp nhà đầu tư ứng kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với quỹ đất thanh toán dự án BT; trường hợp dự án thay đổi hình thức thanh toán hoặc quỹ đất thanh toán; trường hợp sử dụng trụ sở làm việc, quỹ đất do cơ quan Nhà nước quản lý để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT.

Về thời điểm xác định giá đất của quỹ đất thanh toán theo hợp đồng dự án, Nghị quyết nêu rõ đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất hoặc tài sản công đủ điều kiện áp dụng thanh toán theo quy định tại Điều 4 hoặc Điều 5 của Nghị quyết này, thời điểm xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của quỹ đất thanh toán là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất. Trường hợp nhà đầu tư đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao công trình BT trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán cho nhà đầu tư theo cam kết tại hợp đồng dự án thì nhà đầu tư được hưởng thêm một khoản tiền tương ứng với mức lãi vay theo quy định tại hợp đồng dự án đối với phần giá trị hoàn thành của hạng mục công trình hoặc công trình. Trường hợp hợp đồng dự án không quy định mức lãi vay thì áp dụng mức lãi suất trung bình do các Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ công bố tại thời điểm sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Thời gian được hưởng tính từ thời điểm nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình dự án BT đến thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký đến hết ngày 31/12/2027. Sau thời điểm này, trường hợp chưa hoàn thành việc xử lý khó khăn, vướng mắc đối với các dự án BT chuyển tiếp thuộc danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết này, cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm trễ xử lý và báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý.

Kết nối đầu tư