|
| Tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn khiến áp lực thanh khoản tăng mạnh, ngân hàng phải đẩy mặt bằng lãi suất huy động tương đối cao để thu hút vốn. Ảnh: Lê Tiên |
Tại buổi làm việc với NHNN và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng yêu cầu các ngân hàng giảm thực chất lãi suất cho vay. Sau chỉ đạo của Thủ tướng, một số ngân hàng đã thực hiện việc giảm lãi suất. Đơn cử, Agribank triển khai gói tín dụng 70.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay trong chương trình được giảm từ 1 - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn, áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc các lĩnh vực ưu tiên.
Vietcombank triển khai gói tín dụng 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn, dành cho doanh nghiệp và cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, AI, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo, các dự án xanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
VietinBank triển khai gói tín dụng 50.000 tỷ đồng, có lãi suất cho vay thấp hơn 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng doanh nghiệp và cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số…
Ông Nguyễn Minh Tuấn, Tổng giám đốc của AFA Capital cho rằng, nhu cầu vốn hiện rất cao để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 11,9% trong hai quý cuối năm. Do đó, việc giảm lãi suất cho vay sẽ hỗ trợ tích cực cho các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, từ chủ trương hạ lãi suất đến thực hiện thực tế là có khoảng cách, ngân hàng đưa ra nhiều tiêu chuẩn chọn lọc và điều kiện cấp tín dụng để hạ lãi suất.
Theo ông Tuấn, từ phía các ngân hàng, việc thực hiện giảm lãi suất cho vay ở giai đoạn hiện nay là bài toán rất thách thức trước rất nhiều áp lực về chi phí vốn và sức ép nợ xấu. Về chi phí vốn, tính đến cuối tháng 7/2026, tăng trưởng tín dụng đã đạt gần 9% trong khi tăng trưởng huy động vốn chỉ ở mức 5,75%, khiến áp lực thanh khoản lên hệ thống ngân hàng gia tăng mạnh. Tình trạng này buộc các ngân hàng phải duy trì mặt bằng lãi suất huy động tương đối cao để thu hút vốn. Do đó, nếu giảm lãi suất cho vay thì biên lợi nhuận ròng (NIM) của ngân hàng buộc phải giảm. Ở khía cạnh khác, tổng nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện khoảng 300 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cuối năm 2025, đẩy tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn ngành lên mức trên 2%, nợ nhóm 2 và nợ nhóm 5 có xu hướng gia tăng, đòi hỏi các nhà băng phải trích lập dự phòng cao và tăng cường bộ đệm vốn để ứng phó rủi ro.
TS. Châu Đình Linh, giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng, yêu cầu giảm lãi suất cho vay là bước đi cấp thiết trong bối cảnh nền kinh tế đang cần lực đẩy để đạt mục tiêu tăng trưởng. Dù vậy, trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ "giảm lãi vay thực chất" đang gặp lực cản không nhỏ từ phía chi phí đầu vào của các ngân hàng.
Nhằm thu hút dòng tiền gửi trong dân, lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đã tăng lên quanh mức 7 - 8%/năm cho các kỳ hạn 6 - 12 tháng, một số ngân hàng đang “chào” lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng ở mức trên 9%. Chi phí vốn bị đẩy lên cao, trong khi NIM của các NHTM ngày càng thu hẹp, tạo ra sức ép tài chính rất lớn. Nếu lãi suất huy động ở mức cao mà lãi suất cho vay thấp, ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bù lỗ hoặc rủi ro mất cân đối. Giảm lãi suất thực chất là bài toán tối ưu chi phí vận hành chứ không thể chỉ đơn thuần cắt giảm biên lợi nhuận một cách cơ học. Bên cạnh đó, việc cào bằng mục tiêu giảm lãi suất cho toàn hệ thống là thiếu khả thi. Các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ phải chịu áp lực thanh khoản, đồng thời có chi phí huy động vốn cao hơn mặt bằng chung, nếu ép giảm sâu lãi suất cho vay có thể dẫn đến rủi ro suy yếu sức khỏe tài chính.
Theo ông Linh, các NHTM nhà nước và các ngân hàng lớn, đặc biệt là các NHTM cổ phần nhà nước vốn có lợi thế về chi phí vốn thấp nhờ tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) ở mức cao, năng lực quản trị tốt giúp giảm chi phí hoạt động, năng lực quản trị rủi ro cao hơn mặt bằng chung. Những ngân hàng này có thể chấp nhận thu hẹp NIM ở mức an toàn, đóng vai trò tiên phong và dẫn dắt thực hiện chủ trương giảm lãi suất, tạo hiệu ứng định hướng cho toàn thị trường.
Mặt khác, thay vì hạ lãi suất đại trà, một số ý kiến cho rằng, dòng vốn ưu đãi cần tập trung vào các động lực tăng trưởng cốt lõi theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Các gói tín dụng ưu đãi chỉ nên dành riêng cho những lĩnh vực như sản xuất - xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nhà ở xã hội và các dự án hạ tầng trọng điểm. Đồng thời, cần duy trì công tác thanh tra, giám sát chặt chẽ chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng để dòng vốn giá rẻ phải đến đúng địa chỉ, tránh tình trạng “lách” sang các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Trong Thông báo số 428/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với NHNN và hệ thống các tổ chức tín dụng, Thủ tướng yêu cầu NHNN và hệ thống ngân hàng cần hành động với tinh thần trách nhiệm cao, quyết liệt hơn nữa trong huy động nguồn lực cho tăng trưởng trên nền tảng ổn định vĩ mô, đặc biệt phải chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp thông qua các biện pháp cụ thể về ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, phục vụ tăng trưởng và kiểm soát chặt chẽ rủi ro.
Theo đó, cần tiếp tục duy trì, điều tiết chủ động, linh hoạt các mức lãi suất điều hành phù hợp và tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường, hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay; có biện pháp xử lý theo thẩm quyền, đúng quy định đối với những tổ chức tín dụng không chấp hành chỉ đạo của NHNN.