|
| Tại dấu mốc Việt Nam được WB nâng hạng lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao (tháng 7/2026), thu nhập quốc dân bình quân đầu người nước ta đạt 4.970 USD/người, vượt qua ngưỡng tối thiểu 4.636 USD/người của nhóm này. Ảnh: Tiên Giang |
TS. Bùi Đức Thụ, nguyên Phó trưởng ban Công tác đại biểu (nay là Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội) nhìn nhận, cần 18 năm để Việt Nam bước sang nhóm nước “có thu nhập trung bình cao” và hy vọng, 18 năm sau, vào năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Như ông vừa chia sẻ, sau 18 năm kể từ năm 2008, nền kinh tế nước ta tạo nên một bước chuyển từ nhóm nước “có thu nhập trung bình thấp” sang nhóm nước “có thu nhập trung bình cao”. Trên hành trình 18 năm sắp tới, đâu là giải pháp trọng yếu để tiếp tục tạo nên một bước chuyển mới, theo ông?
Tại dấu mốc Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) nâng hạng lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao (tháng 7/2026), tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người nước ta đạt 4.970 USD/người, vượt qua ngưỡng tối thiểu 4.636 USD/người của nhóm này. Hy vọng rằng, 18 năm sau, vào năm 2045 - năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ tạo nên một bước chuyển mới, trở thành nước phát triển có thu nhập cao như mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra.
Để trở thành nước có thu nhập cao với GNI bình quân tối thiểu từ 14.376 USD/người, nền kinh tế nước ta phải tăng trưởng từ 10% trở lên trong 5 năm tới và khoảng 8% vào những năm tiếp theo. Đây không chỉ là khát vọng của dân tộc, là quyết tâm chính trị được Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, mà cần trở thành trách nhiệm chính trị trong tổ chức thực hiện, hành động quyết liệt, có hiệu quả của các cấp, các ngành, địa phương và từng đơn vị.
Trên cơ sở phân định rõ nhiệm vụ và quyền hạn, mỗi tổ chức, cá nhân người đứng đầu cần cụ thể hóa các chủ trương, chính sách thành những giải pháp cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, sáng tạo nhằm giải phóng mọi sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Những khó khăn, vướng mắc cản trở sự phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn lực phải tập trung tháo gỡ, đồng thời cần ủng hộ cách làm mới, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và quản trị nền kinh tế từ trung ương đến cơ sở. Kết quả thực hiện là thước đo cao nhất đánh giá và sắp xếp, bố trí cán bộ; người không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ phải được thay thế ngay.
Năm 2026 - năm đầu tiên trên hành trình mới, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, nhưng thực tế 6 tháng đầu năm mới đạt 8,18%. Làm thế nào để hoàn thành mục tiêu 6 tháng cuối năm (tăng trưởng 11,9%) trong bối cảnh khó khăn, thách thức đang ngày một lớn, thưa ông?
Từ đầu năm đến nay, bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước có nhiều khó khăn, thách thức, nên GDP nước ta tăng trưởng 8,18% trong 6 tháng đầu năm là một kết quả tích cực, thể hiện sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Dù đã nỗ lực nhưng để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 10% thì GDP 6 tháng cuối năm phải tăng 11,9% là nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi sự quyết liệt, chuẩn xác trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Quan sát tình hình kinh tế - xã hội đến tháng 8 năm 2026, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, tích cực xen lẫn những hạn chế đã tồn tại trong nhiều năm, tôi cho rằng, nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với 3 vấn đề mới.
Thứ nhất, tình trạng nhập siêu xuất hiện trở lại; tổng cầu trong nước tăng thấp. Nếu như 6 tháng đầu năm nhập siêu 16,65 tỷ USD thì 7 tháng đầu năm nhập siêu lên tới 20,52 tỷ USD, không chỉ tạo áp lực đối với việc quản lý, điều hành tỷ giá hối đoái, kiểm soát lạm phát, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế mà còn tác động xấu đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong khi đó, tổng cầu trong nước tăng thấp. 6 tháng đầu năm tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025, nhưng loại trừ yếu tố tăng giá thì chỉ tăng 7,3%, thấp hơn mức tăng trưởng kinh tế. Như vậy, câu chuyện thị trường, tổng cầu trong và ngoài nước đang là vấn đề thời sự, cần lời giải để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, áp lực trong quản lý, điều hành chính sách tiền tệ gia tăng. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, nhất là năm 2025, nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta tăng trưởng 8,02%, thuộc nhóm nước có nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, nới lỏng chính sách tiền tệ trong thời gian dài đã tác động đến giá cả thị trường, tạo áp lực gia tăng lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân 7 tháng đầu năm 2026 đã tăng 4,39%, tiến sát mục tiêu cả năm là 4,5%. Theo đó, yêu cầu phải kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách tiền tệ khá căng thẳng.
Thứ ba, yêu cầu thực hiện đa mục tiêu đang gặp nhiều khó khăn. Tăng trưởng GDP năm 2026 phải đạt trên 10% là nhiệm vụ chính trị cần phải đạt được, nhưng đó không phải là nhiệm vụ duy nhất. Yêu cầu không được tăng trưởng “nóng”, bằng mọi giá mà trái lại, phải luôn duy trì sự ổn định của kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế là một việc rất khó. Theo tôi, để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng đa mục tiêu đòi hỏi phải có bản lĩnh, sáng tạo, trí tuệ, quyết đoán trong lãnh đạo, điều hành.
Trước đây, người dân, doanh nghiệp nói nhiều về điểm nghẽn thể chế, nhưng bằng quyết tâm hoàn thiện thể chế, đến nay, điểm nghẽn này dường như đã được khơi thông. Bế mạc Hội nghị Trung ương 3 mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Điểm nghẽn lớn nhất là khâu thực thi”. Xin ông chia sẻ quan điểm của mình?
Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách khơi thông điểm nghẽn thể chế, nhưng nếu khâu thực thi chậm thì chính sách mới không thể chuyển hóa thành kết quả. Việc sắp xếp lại tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị bước đầu đã phát huy hiệu quả, nhưng điểm nghẽn lớn nhất đang ở chính khâu thực thi. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ nguyên nhân sâu xa là thẩm quyền có nơi chưa đi liền trách nhiệm; phân cấp chưa gắn đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ, năng lực cán bộ và kiểm soát; nguồn lực còn chia cắt; tăng trưởng chưa dựa vào năng suất, nội lực; dự báo, phòng ngừa ở một số lĩnh vực, ngành, địa phương chưa theo kịp biến động.
Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, năng lực tổ chức thực thi phải được coi là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của chính sách.
Nghị quyết 168/NQ-CP yêu cầu khai thác tối đa các nguồn lực còn dư địa. Theo ông, đâu là những nguồn lực cần được tập trung khơi thông nhất?
Nguồn lực của nền kinh tế rất lớn và đa dạng, vấn đề là phải biến nguồn lực chưa được khai thác, ở dạng tiềm năng và các nguồn lực đang sử dụng kém hiệu quả thành sức sản xuất mới, tạo nên tăng trưởng thực chất. Nguồn lực nằm trong đất đai, tài chính, vốn, con người, khoa học - công nghệ..., nhưng nếu bị “đóng băng” bởi thủ tục, bởi những điểm nghẽn thể chế, điểm nghẽn thực thi thì không thể tạo ra tăng trưởng.
Để biết đâu là nguồn lực cần tập trung khơi thông nhất, trước tiên cần rà soát những nguồn lực đang bị ách tắc và tìm cách đưa vào nền kinh tế. Đất đai chẳng hạn. Nếu được sử dụng hiệu quả sẽ là nguồn lực rất lớn cho đầu tư phát triển. Nhưng nếu thủ tục kéo dài, dự án không triển khai được thì nguồn lực vẫn nằm đó. Tương tự, nguồn lực đầu tư, con người, khoa học - công nghệ... cũng vậy. Ở tầm vĩ mô, Nghị quyết 10-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW... đã đưa ra những quan điểm, định hướng rõ ràng trong việc thu hút, khơi thông các nguồn lực nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, nhưng kết quả thực hiện còn hạn chế. Rất cần những tổng kết cụ thể để có thông tin chuẩn xác, khách quan nhằm khơi thông các nguồn lực ngủ quên hoặc chưa được sử dụng hiệu quả.
Trở lại với câu chuyện tăng trưởng GDP cho mục tiêu tạo bước chuyển để Việt Nam có tên trong nhóm nước “có thu nhập trung bình cao”. Thưa ông, điều gì quyết định khả năng tăng trưởng cao không chỉ riêng năm 2026 mà bền vững trong những năm tới?
Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026 phải được nhìn như bước khởi động trong cả quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Nếu một vài năm tăng trưởng cao, nhưng năng suất không tăng, năng lực cạnh tranh không được cải thiện và các điểm nghẽn thể chế vẫn tồn tại thì chưa thể coi đó là thành công bền vững. Vấn đề quan trọng nhất là phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và hiệu quả của nền kinh tế.
Muốn vậy, phải tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế mạnh hơn, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và phát huy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời, phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong một nền kinh tế đang chuyển đổi nhanh, lợi thế về lao động giá rẻ sẽ ngày càng giảm. Lợi thế cạnh tranh phải dựa nhiều hơn vào năng suất, kỹ năng, công nghệ và khả năng sáng tạo. Tôi cho rằng, Kết luận 18-KL/TW (Hội nghị Trung ương 2) cần được nhìn trong một mạch thống nhất: mục tiêu tăng trưởng cao phải đi cùng với đổi mới tư duy phát triển và nâng cao năng lực tổ chức thực thi.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng, những tháng cuối năm 2026 cần nhìn nhận vấn đề ở hai góc độ. Không nên chỉ nhìn vào phép tính cơ học giữa tăng trưởng 6 tháng đầu năm và mục tiêu 6 tháng cuối năm mà nên nhìn sâu vào dư địa tăng trưởng của từng ngành, từng khu vực kinh tế, từng địa phương, khả năng chuyển hóa các nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả thành tăng trưởng thực tế. Thứ đến, phải biến quyết tâm chính trị thành năng lực tổ chức thực thi. Khi các bộ, ngành, địa phương xác định rõ dư địa còn lại ở đâu, điểm nghẽn nào cần tháo gỡ và giải pháp nào có thể tạo ra kết quả trong năm 2026 và dài hạn thì mới có cơ sở để phấn đấu.
Gần đây, nhiều định chế tài chính quốc tế như IMF, UOB, Standard Chartered... nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam lên mức cao hơn so với trước đó, chẳng hạn, Standard Chartered dự báo, năm nay, GDP của Việt Nam có thể tăng 9,5% và đạt 11% vào năm tới. Nhiều quan điểm cùng nhìn nhận, năm 2026 là thời điểm quan trọng để tạo đà, nhưng quan trọng hơn là sau năm 2026, chúng ta phải có một nền kinh tế mạnh hơn, có năng suất cao hơn, doanh nghiệp có sức cạnh tranh tốt hơn và người dân được hưởng thành quả tăng trưởng rõ rệt hơn. Nếu làm được như vậy, tăng trưởng trên 10% không chỉ là mục tiêu ngắn hạn mà sẽ trở thành một phần của quá trình nâng cao năng lực phát triển dài hạn của nền kinh tế, hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu phát triển Việt Nam 2030-2045
Ngày 28/7/2026, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành, đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ mục tiêu tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, nước ta hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực. Đến năm 2045, hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập và các mô hình thành phần trên các lĩnh vực được vận hành đồng bộ, hài hoà, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, đóng góp tích cực vào hoà bình, phát triển bền vững, văn minh chung của nhân loại.