Bộ Tài chính chỉ ra 6 điểm nghẽn, đề xuất giải pháp khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra sáng 18/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết khu vực doanh nghiệp hiện đóng góp hơn 60% GDP, tạo việc làm cho trên 17,6 triệu lao động và giữ vai trò chủ lực trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đến hết tháng 6/2026, cả nước có gần 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký hơn 30,6 triệu tỷ đồng; gần 170.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong 6 tháng đầu năm, tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Theo Bộ trưởng, mặc dù sức chống chịu và niềm tin của doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện, song vẫn còn 6 nhóm điểm nghẽn lớn cần sớm tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng. Đó là những bất cập về thể chế và tổ chức thực hiện khi pháp luật còn chồng chéo, thủ tục hành chính chưa thực sự thông suốt; khó khăn trong tiếp cận đất đai và các nguồn lực sản xuất; chi phí đầu vào, logistics và áp lực dòng tiền gia tăng; những thách thức từ biến động thị trường, chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn mới về phát triển bền vững; hạn chế về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực; cùng với sự liên kết chưa chặt chẽ giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, Bộ Tài chính đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế, rà soát đồng bộ các quy định về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, hải quan; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số theo nguyên tắc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý.
Bộ cũng kiến nghị phát triển đồng bộ thị trường vốn, tháo gỡ vướng mắc về đất đai và dự án, đẩy nhanh đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp. Đồng thời, tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI để hình thành các chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.
Gia Lai chấp thuận chủ trương đầu tư Khu công nghiệp Đak Đoa hơn 2.100 tỷ đồng
Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 3017/QĐ-UBND chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Đak Đoa với tổng vốn đầu tư hơn 2.113 tỷ đồng. Đây là dự án trọng điểm nhằm mở rộng không gian phát triển công nghiệp, nâng cao năng lực thu hút đầu tư và tạo động lực tăng trưởng mới cho khu vực phía Tây của tỉnh.
Khu công nghiệp Đak Đoa được quy hoạch tại xã KDang với quy mô khoảng 204ha. Trong đó, hơn 131ha được bố trí cho đất sản xuất công nghiệp và kho bãi, chiếm khoảng 64,3% tổng diện tích; phần còn lại dành cho hệ thống giao thông, cây xanh, hạ tầng kỹ thuật, khu dịch vụ, khu lưu trú chuyên gia, công nhân và các công trình phụ trợ, hướng tới mô hình khu công nghiệp hiện đại, đồng bộ và phát triển bền vững.
Theo phương án đầu tư, tổng kinh phí thực hiện dự án hơn 2.113 tỷ đồng, bao gồm hơn 1.638 tỷ đồng chi phí xây dựng, trên 100 tỷ đồng chi phí thiết bị, gần 275 tỷ đồng các chi phí khác và khoảng 100 tỷ đồng phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Dự án sẽ lựa chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu thầu đối với dự án có sử dụng đất. Khu công nghiệp được định hướng phát triển đa ngành, ưu tiên thu hút các lĩnh vực chế biến sâu nông - lâm sản, công nghiệp sạch, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ, góp phần nâng cao giá trị chuỗi sản xuất của địa phương.
Theo quyết định, dự án có thời hạn hoạt động không quá 70 năm kể từ ngày được Nhà nước cho thuê đất và thời gian triển khai không quá 60 tháng kể từ khi lựa chọn nhà đầu tư. Trong đó, 12 tháng đầu thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất; 48 tháng tiếp theo tập trung xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn đầu sẽ ưu tiên hoàn thiện các hạng mục hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là hệ thống bảo vệ môi trường để đủ điều kiện tiếp nhận các dự án thứ cấp trước khi hoàn thiện toàn bộ khu công nghiệp.
UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu nhà đầu tư được lựa chọn phải triển khai dự án đúng quy hoạch, tiến độ, thực hiện đầy đủ các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy; đồng thời ứng vốn thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện đúng các cam kết. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh được giao chủ trì phối hợp với các sở, ngành và địa phương tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo đúng quy định.
Cần hơn 444.000 tỷ đồng để mở rộng khoảng 2.300km cao tốc lên quy mô 4-8 làn xe
Bộ Xây dựng vừa báo cáo cấp có thẩm quyền kết quả rà soát phương án đầu tư nâng cấp, hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đang được đầu tư theo quy mô phân kỳ, với tổng nhu cầu vốn dự kiến hơn 444.000 tỷ đồng nhằm mở rộng khoảng 2.300km cao tốc lên quy mô từ 4-8 làn xe theo quy hoạch.
Theo Bộ Xây dựng, đối với các tuyến cao tốc quy mô 2 làn xe, tổng chiều dài khoảng 258km, nhu cầu vốn để mở rộng ước khoảng 42.671 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn của nhà đầu tư đã cân đối được khoảng 8.779 tỷ đồng, còn thiếu gần 33.900 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương trong giai đoạn 2026-2030.
Đối với các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế, cần mở rộng khoảng 2.082km lên quy mô quy hoạch từ 4-8 làn xe, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 401.763 tỷ đồng. Riêng tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông dài khoảng 1.222km cần khoảng 199.364 tỷ đồng để hoàn thiện theo quy hoạch.
Bộ Xây dựng cho biết đã có 7 báo cáo trình lãnh đạo Chính phủ về phương án đầu tư mở rộng tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, trong đó đề xuất ưu tiên mở rộng đoạn từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh dài khoảng 1.144km theo hình thức đầu tư công. Sau khi hoàn thành, tuyến sẽ được tổ chức thu phí để hoàn trả vốn ngân sách nhà nước.
Ngoài tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, còn khoảng 860km cao tốc 4 làn xe hạn chế khác cần được đầu tư mở rộng với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 202.000 tỷ đồng.
Trong số này, khoảng 547km thuộc các dự án đầu tư công giai đoạn phân kỳ như Tuyên Quang - Phú Thọ, Cao Lãnh - Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Mỹ An - Cao Lãnh - An Hữu, Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh và Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng có nhu cầu vốn khoảng 142.910 tỷ đồng. Các địa phương đều đề xuất đầu tư mở rộng bằng nguồn vốn đầu tư công và thực hiện thu phí sau khi hoàn thành.
Đối với 313km cao tốc đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), gồm các dự án Vành đai 4 Hà Nội, Dầu Giây - Tân Phú - Bảo Lộc - Liên Khương và Hữu Nghị - Chi Lăng, nhu cầu vốn mở rộng ước khoảng 59.489 tỷ đồng.
Hà Nội dự kiến nâng mức hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh tiểu học từ năm học 2026-2027
Hội đồng Nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội đang xem xét ban hành nghị quyết mới về chính sách hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh tiểu học, với mức hỗ trợ tăng đáng kể nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và góp phần chăm lo phát triển thể chất cho học sinh.
Theo dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp thường lệ tháng 7/2026, thành phố đề xuất quy định mức suất ăn bán trú tối thiểu 40.000 đồng/học sinh/ngày, cao hơn mức hỗ trợ đang áp dụng trong năm học 2025-2026 (20.000-30.000 đồng/ngày).
Dự thảo chia chính sách hỗ trợ thành hai nhóm đối tượng. Đối với nhóm học sinh thuộc diện ưu tiên, ngân sách thành phố sẽ hỗ trợ 100% chi phí, tương đương 40.000 đồng/ngày. Đối với học sinh đại trà, ngân sách hỗ trợ 70%, tương đương 28.000 đồng/ngày, phần còn lại 12.000 đồng/ngày do phụ huynh đóng góp để bảo đảm suất ăn đạt mức tối thiểu theo quy định.
Dự thảo cũng quy định, trường hợp nhà trường và Ban đại diện cha mẹ học sinh thống nhất tổ chức suất ăn có mức chi cao hơn 40.000 đồng/ngày, phần kinh phí tăng thêm sẽ do phụ huynh tự nguyện chi trả trên cơ sở thỏa thuận.
Để triển khai chính sách, Hà Nội dự kiến bố trí nguồn ngân sách khoảng 18.000 tỷ đồng trong giai đoạn 5 năm học (2026-2027 đến 2030-2031), tương đương bình quân khoảng 3.600 tỷ đồng mỗi năm dành cho hỗ trợ bữa ăn bán trú của học sinh tiểu học trên địa bàn.
Theo đánh giá, việc nâng mức hỗ trợ không chỉ góp phần giảm áp lực tài chính cho các gia đình có con học tiểu học mà còn tạo điều kiện nâng cao chất lượng bữa ăn học đường, cải thiện thể trạng, tầm vóc và sự phát triển toàn diện của học sinh Thủ đô.
Dự kiến, nghị quyết sẽ được các đại biểu HĐND thành phố thảo luận và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thường lệ tháng 7, để kịp triển khai từ năm học 2026-2027.
Bộ Công Thương ban hành văn bản hợp nhất về cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân
Bộ Công Thương vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 68/2026/VBHN-BCT về cơ chế và thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân, hợp nhất các quy định tại Nghị định số 72/2025/NĐ-CP và các nội dung được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 278/2026/NĐ-CP.
Theo quy định, giá bán lẻ điện bình quân được xác định trên cơ sở tổng chi phí sản xuất, kinh doanh điện và mức lợi nhuận hợp lý cho mỗi kWh điện thương phẩm trong từng thời kỳ. Việc điều chỉnh giá phải bám sát biến động của các yếu tố đầu vào, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý, bảo đảm công khai, minh bạch và góp phần bảo toàn, phát triển vốn của doanh nghiệp điện lực.
Hàng năm, sau khi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) công bố chi phí sản xuất, kinh doanh điện của năm trước đó hai năm, giá bán lẻ điện bình quân sẽ được rà soát, điều chỉnh trên cơ sở biến động chi phí ở các khâu phát điện, truyền tải, phân phối, bán lẻ, điều độ hệ thống và vận hành thị trường điện. Trong năm, giá điện cũng được xem xét cập nhật theo diễn biến chi phí phát điện, chi phí mua điện và các khoản chi phí chưa được tính vào giá hiện hành.
Văn bản quy định rõ cơ chế điều chỉnh theo từng mức biến động. Trường hợp giá tính toán giảm từ 1% trở lên, giá bán lẻ điện được điều chỉnh giảm tương ứng. Nếu giá tăng dưới 2%, hoặc giảm dưới 1%, EVN không điều chỉnh nhưng phải báo cáo Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Đối với trường hợp giá tăng từ 2% đến dưới 5%, EVN lập hồ sơ phương án giá gửi Bộ Công Thương thẩm định, sau đó được quyền quyết định điều chỉnh theo ý kiến của Bộ. Trường hợp giá tăng từ 5% đến dưới 10%, EVN chỉ được điều chỉnh sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Công Thương. Nếu mức tăng từ 10% trở lên, Bộ Công Thương sẽ chủ trì rà soát, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định; trường hợp cần thiết sẽ báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá.
Theo quy định, trước ngày 25 của tháng đầu tiên mỗi quý II, III và IV, EVN phải cập nhật các thông số đầu vào, sản lượng điện thương phẩm và chi phí phát điện để tính toán lại giá bán lẻ điện bình quân. Hồ sơ phương án giá phải làm rõ cơ sở tính toán, biến động giá nhiên liệu, tỷ giá, chi phí từng khâu và đánh giá tác động của việc điều chỉnh giá điện đối với khách hàng sử dụng điện.