|
| Nếu mỗi năm tháo gỡ được khoảng 20% số dự án vướng mắc, nền kinh tế sẽ có thêm khoảng 670.000 tỷ đồng vốn đầu tư và đóng góp thêm 0,5 – 0,6 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Ảnh: Tống Trang |
Hơn 2,5 triệu tỷ đồng chờ được khơi thông
Một lượng lớn nguồn lực đang bị mắc kẹt trong các dự án bất động sản, nhà ở và hạ tầng kéo dài nhiều năm.
Trước thực trạng này, Bộ Chính trị ban hành Kết luận 24-KL/TW ngày 13/4/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 và Chính phủ ban hành Nghị định 147/2026/NĐ-CP ngày 7/5/2026, đặt mục tiêu xử lý dứt điểm 100% dự án tồn đọng trong giai đoạn từ 1/5/2026 đến 1/5/2031.
Theo Bộ Tài chính, tính đến giữa tháng 9/2026, Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng (Hệ thống 751) ghi nhận 4.685 dự án khó khăn, vướng mắc. Các bộ, ngành và địa phương đã hoàn thành phân loại, xử lý 3.407 dự án, tương đương 72,7%, với tổng mức đầu tư được giải phóng hơn 2,5 triệu tỷ đồng.
Còn 1.278 dự án cần tiếp tục xử lý, trong đó 1.123 dự án đã được đề xuất phương án giải quyết và 155 dự án thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng.
Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, nếu mỗi năm tháo gỡ khoảng 20% số dự án vướng mắc, nền kinh tế có thể có thêm khoảng 670.000 tỷ đồng vốn đầu tư, đóng góp 0,5 - 0,6 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP.
Đồng quan điểm, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) cho rằng, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng sẽ khơi thông nguồn vốn và đất đai bị đóng băng, tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay không chỉ là chính sách mà còn nằm ở khâu tổ chức thực hiện, đặc biệt là việc tránh phát sinh thêm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Từ tháo gỡ pháp lý đến dự án hồi sinh
Thực tế cho thấy, một dự án được xác định đã tháo gỡ vướng mắc chưa đồng nghĩa với việc có thể lập tức trở lại thị trường.
Một số dự án lớn như Noble Crystal Riverside tại Tây Hồ, Hà Nội hay Khu đô thị Aqua City tại Biên Hòa, Đồng Nai đã được xử lý các vướng mắc về quy hoạch, pháp lý và nghĩa vụ tài chính. Tuy nhiên, với nhiều dự án khác, sau khi tháo được một nút thắt lại xuất hiện những chi phí và thủ tục mới.
Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của công tác tháo gỡ Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 9240/VPCP-KTTH ngày 10/9/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao VCCI chủ trì, phối hợp với các hiệp hội và doanh nghiệp rà soát việc các bộ, ngành xử lý, trả lời kiến nghị đã “rõ ràng, thực chất, hiệu quả chưa”.
Đây là bước kiểm chứng quan trọng, bởi hiệu quả của quá trình tháo gỡ không thể chỉ thể hiện qua số lượng văn bản đã ban hành mà phải được phản ánh bằng khả năng triển khai thực tế của doanh nghiệp.
Những “bẫy” chi phí sau tháo gỡ
Theo phản ánh từ doanh nghiệp thuộc HoREA, ngay cả khi vướng mắc pháp lý được xử lý, dự án vẫn có thể gặp khó bởi chi phí đất đai, vốn và thủ tục.
Rào cản thứ nhất nằm ở chi phí thuê đất và thủ tục đầu tư. Theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 103/2024/NĐ-CP, tỷ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất hằng năm dao động từ 0,25% đến 3%. Khi bảng giá đất được điều chỉnh ở mức cao, chi phí thuê đất có thể tăng mạnh, tác động trực tiếp đến phương án tài chính và giá thành dự án.
Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng được doanh nghiệp phản ánh còn kéo dài do phải lấy ý kiến từ nhiều cơ quan, khiến thời gian triển khai tăng và chi phí vốn phát sinh.
Rào cản thứ hai là điểm nghẽn về vốn và lãi suất vay. Dù chính sách đã mở, hầu như chưa có chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội nào tiếp cận được gói tín dụng thương mại 145.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi 6,1%/năm. Trên thực tế, doanh nghiệp vẫn phải gánh mức lãi suất thương mại rất cao, có thời điểm lên đến 14%/năm, làm triệt tiêu hiệu quả phương án tài chính và khả năng phục hồi của dự án.
Đo bằng kết quả trên thực địa
Hiệu quả của chiến dịch tháo gỡ dự án tồn đọng không chỉ đo bằng số lượng văn bản trả lời, mà phải bằng số dự án thực sự tái khởi động trên thực địa. Tháo gỡ dự án tồn đọng vì vậy cần một thước đo khác: bao nhiêu dự án thực sự được triển khai trở lại, bao nhiêu sản phẩm được đưa ra thị trường và bao nhiêu nguồn lực được chuyển thành hoạt động kinh tế thực tế.
Việc VCCI rà soát chất lượng phản hồi của các bộ, ngành, cùng với việc tiếp tục xử lý các điểm nghẽn về tiền thuê đất, vốn và thủ tục đầu tư, sẽ quyết định mức độ thành công của chiến dịch này.
Bởi nếu một dự án chỉ được “tháo gỡ” trên hồ sơ nhưng vẫn chưa thể triển khai ngoài thực địa, nguồn lực vẫn chưa thực sự được giải phóng. Khi đó, khoảng cách giữa “đã xử lý” và “đã hồi sinh” vẫn còn rất lớn.