Nới vốn tín dụng, thận trọng kiểm soát rủi ro

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Từ 1/7/2026, trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn được nới từ mức 30% lên 40% theo quy định tại Thông tư số 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Ước tính khoảng 1 triệu tỷ đồng được bổ sung vào nguồn vốn cho vay trung và dài hạn sau quyết sách này. Bên cạnh đó, các giải pháp khơi thông tín dụng khác dự báo sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP.

Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, tạo điều kiện cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III. Ảnh: Tiên Giang
Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, tạo điều kiện cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III. Ảnh: Tiên Giang

Nhiều ý kiến cho rằng, cần thêm các giải pháp kiểm soát rủi ro, đồng thời thúc đẩy hiệu quả hoạt động của thị trường vốn để giảm dần sự lệ thuộc quá lớn vào vốn tín dụng.

Thông tư 25/2026/TT-NHNN cũng quy định được tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại cấu phần tổng tiền gửi của tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). NHNN cho biết, những điều chỉnh này nhằm thực hiện chủ trương phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn.

Cùng ngày ban hành Thông tư 25 (22/6/2026), NHNN có công văn gửi các ngân hàng thương mại về việc loại trừ dư nợ phát sinh mới của 18 dự án do Vingroup, Sun Group và Masterise triển khai khi tính toán hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm. Công ty CP Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) giả định tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 đạt 15% (tương đương tổng dư nợ tín dụng đạt 21,384 triệu tỷ đồng). Danh mục 18 dự án được 3 chủ đầu tư trên đề xuất là các dự án hạ tầng giao thông chiến lược trong lĩnh vực hàng không, đường sắt tốc độ cao và các công trình phục vụ APEC. Tổng vốn huy động của nhóm dự án này là 752,1 nghìn tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2033, trong đó khoảng 85% tổng vốn huy động dự kiến sẽ được giải ngân trong 3 năm đầu. Như vậy, tính bình quân, vốn huy động của nhóm dự án trên khoảng 210 nghìn tỷ đồng trong 3 năm tới. Con số này chiếm khoảng 1% tổng dư nợ tín dụng mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2028, ước tính đóng góp vào tăng trưởng tín dụng thêm khoảng 0,5 - 1%/năm trong giai đoạn này.

Trước đó, cuối tháng 5/2026, NHNN có công văn cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) không phải tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà ở xã hội (NOXH) và khu công nghiệp, khu chế xuất khi xác định mức tăng trưởng tín dụng bất động sản (BĐS), áp dụng từ ngày 1/1/2026 đến hết 31/12/2026.

Liên quan đến dòng vốn tín dụng cho các dự án lớn, NHNN đã lấy ý kiến về nội dung: “Mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng không vượt quá 38%, một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó không vượt quá 52% vốn tự có của ngân hàng để cho vay các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 258 về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn thủ đô” thay cho tỷ lệ 10% và 15% của quy định hiện hành.

62.jpg
Nguồn: VCBS

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) ước tính, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN có thể giúp tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tăng thêm 10%, tương đương với lượng dư nợ trung dài hạn tối đa có thể bơm thêm vào nền kinh tế ước đạt 1 triệu tỷ đồng. Phần dư nợ tăng thêm này chủ yếu sẽ hỗ trợ các ngành có chu kỳ hoàn vốn dài như BĐS, năng lượng tái tạo, đầu tư công và hạ tầng công nghiệp. Theo VCBS, việc nâng trần lên 40% là biện pháp nới lỏng có tính toán để hỗ trợ nền kinh tế, tạo thời gian và không gian cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III khắt khe hơn từ năm 2028.

Ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng cho rằng, các động thái trên của NHNN đều nhằm mục tiêu tăng cung tín dụng cho nền kinh tế và cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào vốn tín dụng, dù tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP đã ở mức 145% vào cuối năm 2025. Việc nới các giới hạn tín dụng sẽ để lại rủi ro thanh khoản khi 80 - 90% nguồn tiền gửi của hệ thống ngân hàng là vốn ngắn hạn. Việc đáp ứng nguồn vốn trung và dài hạn tăng trưởng kinh tế là cần thiết song cần đặt thời hạn áp dụng chỉ từ 1 - 2 năm và thiết lập các chế độ yêu cầu báo cáo định kỳ về dư nợ cho vay, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn với các biện pháp kiểm soát và ứng phó xử lý rủi ro kịp thời.

TS. Châu Đình Linh, giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng, để kiểm soát rủi ro mất cân đối giữa kỳ hạn nguồn vốn và kỳ hạn tài sản khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn, cần đặt ra các quy định/yêu cầu khắt khe về quản trị tài sản - nguồn vốn, kiểm soát rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất biến động như hiện tại.

“Song việc này cần thực hiện đồng thời với nỗ lực xây dựng và quan điểm “không thể thay thế” một thị trường vốn phát triển, một hệ thống ngân hàng được củng cố về năng lực quản trị đủ sức chống chịu trước các cú sốc thị trường. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, gia cố các bộ đệm an toàn và năng lực tài chính cho các ngân hàng”, ông Linh nhấn mạnh.

Kết nối đầu tư