|
| Đề xuất nghiên cứu và bổ sung phạm vi áp dụng cơ chế đàm phán giá đối với lĩnh vực thuốc và thiết bị y tế nhằm tăng tính linh hoạt, nâng cao hiệu quả mua sắm. Ảnh: Lê Tiên |
Hình thức đàm phán giá bước đầu phát huy hiệu quả
Theo dữ liệu đấu thầu, từ năm 2023 đến nay, Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc quốc gia đã được Bộ Y tế phê duyệt 11 kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Nhìn chung, cơ chế đàm phán giá mua sắm thuốc biệt dược gốc đã bước đầu phát huy hiệu quả.
Một số gói thầu đang được triển khai như: Gói thầu Cung cấp thuốc tránh thai năm 2026 (Mã hiệu: ĐPG.TTT.2026, thuốc Etonogestrel 68mg năm 2026 cho Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030, thuộc Danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá); Dự toán Cung cấp thuốc biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu thuộc danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá năm 2026 (đợt 2) có tổng dự toán 20.041 tỷ đồng (chia thành 4 gói thầu)…
Một số gói thầu đã được phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Đơn cử, Gói thầu Cung cấp vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib trong Chương trình tiêm chủng mở rộng năm 2025. Tổng giá trúng thầu là 74,148 tỷ đồng, giảm khoảng 3,67% so với giá gói thầu (76,971 tỷ đồng).
Ba gói thầu thuộc Dự toán Cung cấp thuốc biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu thuộc danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá năm 2025 - 2026 với tổng dự toán 22.187,7 tỷ đồng cũng đã hoàn thành đàm phán giá và công bố kết quả vào đầu tháng 10/2026.
Trong đó, Gói thầu 1 Cung cấp 34 thuốc biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu thuộc nhóm tim mạch, tiểu đường, ung thư và điều hòa miễn dịch lần đầu thực hiện đàm phán giá (Mã hiệu: BDG.25.01) có giá trúng 4.581 tỷ đồng (16 thuốc). Giá trúng thầu của Gói thầu 2 Cung cấp 35 thuốc biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu (không bao gồm nhóm tim mạch, tiểu đường, ung thư và điều hòa miễn dịch) lần đầu thực hiện đàm phán giá (Mã hiệu: BDG.25.02) là 2.191 tỷ đồng (15 thuốc). Giá trúng thầu của Gói thầu 3 Cung cấp 13 thuốc biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu đã có kết quả đàm phán giá nhưng hết hiệu lực thỏa thuận khung (Mã hiệu: BDG.25.03) là 1.491 tỷ đồng (3 thuốc).
Như vậy, tổng giá trúng thầu của 3 gói thầu đạt khoảng 8.263 tỷ đồng, với 34 thuốc lựa chọn được nhà cung ứng. Một số phần thầu vẫn chưa lựa chọn nhà thầu, nhưng kết quả trên cho thấy cơ chế đàm phán giá đã góp phần hình thành kênh mua sắm đối với các thuốc có tính đặc thù, đồng thời đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện quy trình để nâng cao hiệu quả thực hiện.
Từ thực tiễn đó, việc mở rộng phạm vi áp dụng đàm phán giá tiếp tục được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Đấu thầu (đang được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI). Theo đề xuất từ Bộ Y tế, cơ chế đàm phán giá nên được xem xét mở rộng sang thiết bị y tế, vật tư và những sản phẩm có ít nhà sản xuất, khó tổ chức lựa chọn nhà thầu cạnh tranh theo phương thức thông thường, hay mua trực tiếp từ chủ sở hữu...
Đồng thuận với đề xuất trên, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) cho rằng, cần mở rộng phạm vi đàm phán giá đối với biệt dược gốc, sinh phẩm tham chiếu; thuốc, thiết bị y tế, vật tư y tế, linh kiện và phụ tùng thay thế lớn của thiết bị, vật tư xét nghiệm chỉ có một hoặc hai hãng sản xuất. USABC cũng đề xuất, tiếp tục giao Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định danh mục và quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu áp dụng hình thức đàm phán giá.
Bảo mật giá: Dư địa thương lượng và yêu cầu minh bạch
Bên cạnh đề xuất mở rộng phạm vi đàm phán giá, Bộ Y tế còn kiến nghị bổ sung vào Luật Đấu thầu quy định cho phép mua sắm theo cơ chế đặc biệt và thực hiện việc đàm phán giá trực tiếp với nhà sản xuất, nhà cung cấp, trong đó cho phép áp dụng cơ chế bảo mật giá theo yêu cầu của nhà sản xuất/hãng, nhà cung cấp đối với trường hợp mua sắm quốc tế, đàm phán giá và mua sắm đặc biệt.
Theo Bộ Y tế, thông tin về giá dược phẩm tại các quốc gia, trong đó có các nước ASEAN, thường hạn chế hoặc không được công khai do chính sách giá và thỏa thuận bảo mật giữa nhà sản xuất/hãng với từng quốc gia. Việc bổ sung quy định như trên nhằm bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham khảo, đàm phán giá và nâng cao hiệu quả mua sắm.
Thực tế, tại thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát, cơ chế mua sắm đặc biệt từng được Chính phủ tiến hành mua vắc xin với các điều kiện đặc thù để đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách phòng, chống dịch bệnh cho người dân. Nhờ huy động tối đa các nguồn cung vắc xin kịp thời, đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng và triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch, Việt Nam đã từng bước đẩy lùi đại dịch Covid-19, tạo điều kiện sớm khôi phục các hoạt động kinh tế - xã hội.
Bình luận về đề xuất của Bộ Y tế, một số ý kiến cho rằng cần có sự xem xét thấu đáo. Chia sẻ với phóng viên, một chuyên gia đấu thầu quốc tế nêu, ngay cả khi mua sắm trong tình huống khẩn cấp cũng cần làm rõ việc áp dụng cơ chế đặc thù phục vụ ứng phó dịch bệnh hay cơ chế mua sắm thường xuyên. Nếu áp dụng bảo mật giá trong hoạt động mua sắm thuốc, thiết bị y tế thông thường, cần có những quy định cụ thể về phạm vi, điều kiện và trách nhiệm giám sát. Việc bảo mật giá sẽ dễ dẫn đến khép kín giữa hàng hóa, nhà thầu, đại lý phân phối và gây khó khăn cho việc kiểm soát, giám sát, cũng như giải trình kết quả lựa chọn nhà thầu.
Trong khi Bộ Y tế đề xuất mở rộng cơ chế đàm phán giá kèm theo chế độ bảo mật theo yêu cầu của bên bán thì diễn biến đáng chú ý là, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 6 luật lĩnh vực y tế đang hướng tới tăng cường công khai, liên thông dữ liệu giá thuốc, thiết bị y tế. Trong đó, dự thảo sửa đổi Luật Dược được bổ sung quy định về công bố giá bán buôn thuốc dự kiến; dự thảo sửa đổi Luật Khám bệnh, chữa bệnh đề xuất quản lý thiết bị y tế theo vòng đời, chuỗi cung ứng và kết nối dữ liệu giữa các cơ quan quản lý…
Theo ghi nhận của phóng viên, nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn giữa bảo mật hay công khai toàn bộ thông tin, mà là xác định rõ phạm vi bảo mật và cơ chế tiếp cận dữ liệu của các cơ quan có thẩm quyền. Cơ chế bảo mật giá tạo dư địa cho thương lượng, nhưng vẫn phải bảo đảm khả năng kiểm chứng hiệu quả mua sắm, kiểm soát chi phí và trách nhiệm giải trình. Bởi xét đến cùng, hiệu quả đàm phán giá không chỉ được đo bằng mức giảm giá sau thương lượng, mà còn ở khả năng bảo đảm nguồn cung, chất lượng thuốc, thiết bị y tế và quyền lợi của người bệnh.