|
| Đối với thiết bị y tế, dữ liệu cần cho phép nhận diện chính xác đến model, cấu hình, thông số kỹ thuật, xuất xứ, phụ kiện, chế độ bảo hành, bảo trì và những dịch vụ đi kèm. Ảnh: Tiên Giang |
Hai định hướng này mở ra kỳ vọng kết nối dữ liệu đồng bộ, liên thông, nâng cao hiệu quả mua sắm công. Tuy nhiên, làm thế nào để minh bạch nhưng vẫn bảo vệ được bí mật kinh doanh, nhận diện rủi ro mà không biến mọi chênh lệch giá thành nghi vấn vi phạm là 2 câu hỏi lớn.
Từ dữ liệu phân tán đến yêu cầu giám sát liên thông
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế đang được các đại biểu Quốc hội thảo luận, đóng góp ý kiến để tiếp tục hoàn thiện. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật, một trong những vấn đề đáng chú ý được đặt ra là yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giá thuốc, TBYT nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và giám sát hoạt động đấu thầu.
Theo Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình của Bộ Y tế, Bộ Công an đề nghị bổ sung quy định làm cơ sở xây dựng, vận hành, quản lý, khai thác và chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia về thuốc, TBYT, bảo đảm quản lý tập trung, liên thông thông tin giá nhập khẩu, giá bán ra, giá niêm yết, giá trúng thầu. Bộ Công an còn đề xuất tích hợp chức năng cảnh báo tự động đối với các doanh nghiệp từng có vi phạm trong hoạt động đấu thầu, doanh nghiệp tham gia đấu thầu hoặc trúng thầu với giá cao hơn mức giá thấp nhất đã thực hiện, cũng như các trường hợp có dấu hiệu vi phạm những hành vi bị cấm theo pháp luật về đấu thầu.
Tiếp thu ý kiến này, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về quản lý TBYT theo vòng đời sản phẩm và chuỗi cung ứng; công khai thông tin giá TBYT, cơ sở kinh doanh; liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực y tế, hải quan, thuế, đấu thầu và bảo hiểm y tế. Việc kê khai, cập nhật giá và công khai danh sách các cơ sở phân phối, kinh doanh TBYT trên hệ thống quản lý dữ liệu cũng được bổ sung nhằm tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chuỗi cung ứng và hạn chế tình trạng mua bán lòng vòng làm tăng giá.
Định hướng sửa đổi Luật Đấu thầu cũng đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý hoạt động mua sắm công, từ chú trọng quy trình sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, hiệu quả và kết quả đầu ra. Theo đó, việc quản lý không chỉ dừng ở giá trúng thầu và tính hợp lệ của quá trình lựa chọn nhà thầu, mà cần hướng tới đánh giá chất lượng hàng hóa, hiệu quả thực hiện hợp đồng và giá trị mang lại trong quá trình sử dụng.
Hai định hướng này mở ra yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu mua sắm có khả năng kết nối thông tin từ giá nhập khẩu, giá kê khai, giá trúng thầu đến chất lượng hàng hóa, chi phí vận hành, bảo trì và hiệu quả sử dụng. Đối với lĩnh vực y tế, nơi có nhiều loại thiết bị giá trị lớn, công nghệ chuyên biệt và thời gian sử dụng kéo dài, một số ý kiến cho rằng, dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy cả về giá và chất lượng sẽ giúp các cơ sở khám, chữa bệnh có thêm căn cứ đánh giá tính hợp lý của giá dự thầu, lựa chọn nhà thầu và giải trình quyết định mua sắm; đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện rủi ro, nâng cao hiệu quả hậu kiểm.
Trong văn bản góp ý Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi), Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (US-ASEAN) cho rằng, đối với TBYT, đặc biệt là thiết bị công nghệ cao, hiệu quả mua sắm công không nên chỉ căn cứ vào giá mua ban đầu, mà cần đánh giá toàn diện trong suốt vòng đời sử dụng như: chất lượng chuyên môn, hiệu quả lâm sàng, an toàn cho người bệnh, chi phí vòng đời, năng lực vận hành, bảo trì, bảo hành và khả năng nâng cấp công nghệ.
Làm rõ trách nhiệm cung cấp, cập nhật và kiểm chứng thông tin
Theo nhiều cán bộ phụ trách công tác mua sắm ngành y tế, một khó khăn lớn hiện nay là các bệnh viện thiếu nguồn dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy để tham khảo khi xây dựng giá gói thầu và đánh giá tính hợp lý của giá dự thầu. Việc xác định giá phần lớn dựa vào kết quả thẩm định giá, báo giá của doanh nghiệp, giá trúng thầu tại những cơ sở y tế khác. Trong khi đó, mỗi nguồn thông tin đều có những giới hạn nhất định.
Đáng lo ngại, khi giá trúng thầu của một cơ sở y tế khác được sử dụng làm căn cứ tham khảo cho những cuộc mua sắm tiếp theo, một mức giá chưa phản ánh đúng giá trị hàng hóa có nguy cơ tiếp tục được sử dụng, tạo thành chuỗi tham chiếu thiếu chính xác, đặc biệt với trường hợp áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp. Chủ đầu tư không chỉ gặp khó trong việc xác định giá mua sắm hợp lý, mà còn phải đối mặt với áp lực giải trình, rủi ro pháp lý khi các cơ quan chức năng tiến hành thanh, kiểm tra, hậu kiểm.
Tình trạng này càng rõ nét đối với những TBYT nhập khẩu có cấu hình chuyên biệt, chỉ được cung cấp thông qua một nhà phân phối tại Việt Nam. Khi thiếu dữ liệu về giá nhập khẩu, giá bán ở các khâu phân phối và giá giao dịch của những sản phẩm tương đồng, chủ đầu tư rất khó có cơ sở để xác định mức giá doanh nghiệp chào bán có hợp lý hay không, chẳng hạn như trường hợp doanh nghiệp có hành vi chuyển giá thông qua việc mua bán lòng vòng ở nước ngoài trước khi nhập khẩu về Việt Nam. Ngay cả khi đã thực hiện khảo sát thị trường và thẩm định giá theo quy định, câu hỏi về khả năng giá bị đẩy lên qua các trung gian vẫn không dễ trả lời.
Nếu các dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, việc đối chiếu giá có thể giúp chủ đầu tư chủ động và có cơ sở để nhận diện rủi ro ngay trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu. Đối với thuốc, hệ thống dữ liệu liên thông có thể hỗ trợ so sánh giá của các mặt hàng cùng hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, nhóm thuốc và điều kiện cung ứng tương đồng. Đối với TBYT, dữ liệu cần cho phép nhận diện chính xác đến model, cấu hình, thông số kỹ thuật, xuất xứ, phụ kiện, chế độ bảo hành, bảo trì và những dịch vụ đi kèm. Chỉ khi các điều kiện so sánh đủ tương đồng, chênh lệch giá mới có ý nghĩa như một tín hiệu cảnh báo cần kiểm tra, xác minh.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp nhập khẩu TBYT cho rằng, yêu cầu minh bạch thông tin cần được cân bằng với quyền bảo vệ bí mật kinh doanh. Không phải mọi dữ liệu về giá nhập khẩu, chiết khấu thương mại, chi phí phân phối hay điều kiện giao dịch đều có thể công khai rộng rãi. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông cần phân định rõ thông tin nào phải công khai, thông tin nào chỉ được khai thác bởi cơ quan có thẩm quyền và mục đích sử dụng của từng nhóm dữ liệu.
Pháp luật về đấu thầu hiện hành đã đặt ra yêu cầu công khai kết quả lựa chọn nhà thầu và những thông tin liên quan đến hàng hóa trúng thầu, chất lượng sử dụng. Tuy nhiên, từ thực tiễn mua sắm, thông tin được các chủ đầu tư công bố chưa đầy đủ, chi tiết, đồng nhất để các đơn vị khác có thể đối chiếu chính xác về chủng loại, cấu hình, phụ kiện và điều kiện cung ứng; nhiều chủ đầu tư còn bỏ ngỏ trách nhiệm công khai thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Do đó, theo nhiều ý kiến, để dữ liệu trở thành công cụ giám sát thực chất, bên cạnh việc chuẩn hóa thông tin đầu vào, cần làm rõ trách nhiệm cung cấp, cập nhật và kiểm chứng thông tin của từng chủ thể; có cơ chế xử lý đối với trường hợp không tuân thủ nghĩa vụ công khai theo quy định; đồng thời thiết lập quy trình xác minh, phản hồi và điều chỉnh những cảnh báo chưa chính xác. Khi đó, dữ liệu mới có thể hỗ trợ nhận diện rủi ro, mà không mặc nhiên biến mọi chênh lệch giá thành nghi vấn vi phạm.