|
| Cần có những chính sách khuyến khích, tạo cơ sở cho chủ đầu tư lựa chọn hàng hóa, sản phẩm xuất xứ Việt Nam trong đấu thầu. Ảnh: Tiên Thắng |
Tại cuộc hội thảo lấy ý kiến về định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu thầu và Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 214/2025/NĐ-CP tổ chức mới đây, đại diện phòng, ban thực hiện công tác mua sắm, đấu thầu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã chia sẻ một số khó khăn trong thực tiễn triển khai chính sách ưu đãi trong đấu thầu được quy định tại Luật Đấu thầu và Nghị định 214, dẫn đến 2 tập đoàn chưa áp dụng được nhiều, nhất là với ưu đãi đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam.
Theo đại diện EVN, Luật Đấu thầu quy định các nhóm đối tượng được hưởng ưu đãi. Một số tiêu chí ưu đãi có thể xác định và áp dụng ngay, chẳng hạn ưu đãi đối với nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế, hoặc ưu đãi khi nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước mà nhà thầu trong nước đảm nhận từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu. Đây đều là những tiêu chí có thể xác định rõ. Tuy nhiên, một số quy định còn rất khó trong quá trình thực hiện. Khó khăn không phải do quy định của Luật hay Nghị định chưa đủ chi tiết, mà khó ở cơ sở để xác định các tiêu chí đáp ứng quy định của pháp luật. Đặc biệt, đối với hàng hóa sản xuất trong nước, việc áp dụng ưu đãi dựa trên tỷ lệ nội địa hóa, nhà thầu có thể kê khai và cung cấp nhiều tài liệu chứng minh, nhưng chủ đầu tư không có căn cứ để xác định tính chính xác và giá trị pháp lý của các tài liệu đó. Vì vậy, việc áp dụng ưu đãi đối với hàng hóa sản xuất trong nước tại EVN và các đơn vị thành viên cứ xoay vần không thông.
Theo đại diện Viettel, liên quan đến chính sách ưu đãi đối với sản phẩm sản xuất trong nước, đặc biệt là sản phẩm công nghệ cao, bản chất của vấn đề không nằm ở việc Nhà nước có quy định ưu đãi hay không, mà là chủ đầu tư có sẵn sàng sử dụng sản phẩm trong nước hay không. Khi một sản phẩm đã được khẳng định chất lượng và có thời gian hiện diện lâu trên thị trường thì không có nhiều vấn đề. Tuy nhiên, với những sản phẩm trước đây phải nhập khẩu, khi doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ và bắt đầu sản xuất được thì liệu các chủ đầu tư có sẵn sàng dùng sản phẩm trong nước hay không. Khi chủ đầu tư sẵn sàng thì có nhiều cách để thúc đẩy, nhưng nếu họ chưa sẵn sàng thì những chính sách ưu đãi trong đấu thầu cũng chưa chắc giải quyết được. Bởi trên thực tế, việc ưu đãi thêm vài phần trăm trong đấu thầu chưa giải quyết được căn nguyên của vấn đề. Trong giai đoạn đầu phát triển, giá thành của sản phẩm trong nước thường chưa thể cạnh tranh. Đây là quy luật phát triển công nghệ: chi phí nghiên cứu, phát triển và sản xuất ban đầu còn cao, đến khi quy mô sản xuất lớn hơn thì giá mới giảm xuống. Trong khi đó, sản phẩm nhập khẩu nhiều khi đã ở giai đoạn giá thành thấp, mức ưu đãi khó có thể bù đắp được khoảng cách này.
Từ thực tiễn, đại diện EVN kiến nghị tiếp tục duy trì các chính sách ưu đãi vì đây là chủ trương chung của Nhà nước, nhưng cần có hướng dẫn cụ thể cách thức hoặc căn cứ để chủ đầu tư xác định ưu đãi đối với hàng hóa mà nhà thầu kê khai, vì đây là một khâu mất rất nhiều thời gian và khó xác định trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu.
Đại diện Viettel cho rằng, ngoài việc duy trì các chính sách ưu đãi hiện có, có thể nghiên cứu một hướng tiếp cận mới, đó là có cơ chế ưu đãi dành cho chủ đầu tư hoặc dự án khi mạnh dạn sử dụng sản phẩm trong nước. Tức là không chỉ ưu đãi đối với nhà thầu trong hoạt động đấu thầu, mà còn có chính sách khuyến khích đối với chủ đầu tư khi lựa chọn hàng hóa, sản phẩm xuất xứ trong nước. Đây là một hướng cần được nghiên cứu thêm, nhằm tạo sự tự tin để chủ đầu tư sẵn sàng sử dụng và chủ động tìm kiếm sản phẩm trong nước. Nhà nước cần có một cơ chế mạnh hơn để thúc đẩy việc sử dụng sản phẩm trong nước. Thay vì chỉ dừng ở các chính sách ưu đãi đối với hàng hóa trong nước trong đấu thầu, cần tạo được nhu cầu và niềm tin từ phía người sử dụng để giải quyết được tận gốc vấn đề.
Từ góc nhìn của một chuyên gia đấu thầu nhiều kinh nghiệm, ông Phạm Thy Hùng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính) chia sẻ góc nhìn về việc làm sao thông qua chính sách ưu đãi trong đấu thầu để phát triển sản phẩm chiến lược trong nước sản xuất được. Ông Phạm Thy Hùng chỉ ra kinh nghiệm của một số quốc gia, ví dụ ở Trung Quốc, Luật Mua sắm Chính phủ 2002 quy định ưu tiên mua hàng nội địa, nhưng quan trọng hơn, Chính phủ thường xuyên ban hành danh mục hàng hóa ưu tiên gắn với ngành chiến lược: điện tử, viễn thông, năng lượng, công nghiệp nặng… Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1980 đã sử dụng hợp đồng R&D của Chính phủ để tài trợ phát triển công nghệ bán dẫn, viễn thông - tạo nền tảng cho Samsung, LG, SK Hynix trở thành doanh nghiệp công nghệ toàn cầu.
Với Việt Nam, ông Hùng cho rằng, dù đã có quy định về ưu đãi hàng hóa trong nước nhưng khi triển khai còn rất khó khăn trong việc xác định đúng tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm để được hưởng ưu đãi. Để khả thi, thuận lợi và phát huy hiệu quả chính sách, ông Phạm Thy Hùng cho rằng, chính sách đấu thầu của Việt Nam nên bổ sung cơ chế ưu tiên mua sắm công hàng hóa, sản phẩm chiến lược do doanh nghiệp trong nước sản xuất. Trước mắt thực hiện theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), chọn khoảng 3 - 5 sản phẩm công nghệ chiến lược đưa vào danh sách ưu tiên. Tiêu chí để được đưa vào danh sách ưu tiên là doanh nghiệp phải chứng minh được quyền sở hữu trí tuệ, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, giá cả, chủ đầu tư phải mua những sản phẩm trong danh sách ưu tiên này. Việc bổ sung, loại bỏ sản phẩm, doanh nghiệp trong danh sách ưu tiên cần tuân theo tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể.