|
| Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương báo cáo kết quả kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm tại Hội nghị - Ảnh: VGP/Vũ Phong |
Theo Thứ trưởng, đầu tháng 7 vừa qua, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến với các địa phương để sơ kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Đây là hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đánh giá toàn diện kết quả đạt được, đồng thời xác định các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của năm 2026.
Hội nghị có sự tham dự và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Khái quát những kết quả nổi bật, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết, GDP 6 tháng ước tăng 8,18%, cao nhất từ năm 2011 đến nay, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao. Các động lực về đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu tăng trưởng tích cực, cao nhất trong nhiều năm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 06 tháng tăng 4,38%, trong phạm vi mục tiêu (khoảng 4,5%); cung ứng điện và xăng dầu được bảo đảm. Đến ngày 8/7/2026, thu NSNN đạt gần 1,62 triệu tỷ đồng, bằng 64,24% dự toán. Giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng đạt gần 357 nghìn tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ 38,4 nghìn tỷ đồng. Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt; thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định; thị trường vốn được tập trung phát triển, đưa vào vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon.
Đánh giá về kết quả đạt được, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho rằng, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm là rất tích cực và rất đáng khích lệ. Mặc dù một số chỉ tiêu chưa đạt kịch bản điều hành đề ra để phấn đấu, song kết quả thực tế đạt được là khả quan, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Theo Thứ trưởng, năm 2026 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời cũng là giai đoạn khởi đầu của nhiều chủ trương, cải cách lớn. Trong bối cảnh đó, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã bám sát kế hoạch, chủ động chỉ đạo, điều hành và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm, tạo nền tảng để kinh tế đạt được những kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm.
Thứ trưởng nhấn mạnh: "Thời gian Chính phủ mới chính thức vận hành chưa đầy 3 tháng, vừa phải kiện toàn tổ chức, nhân sự, vừa giải quyết những công việc thường xuyên và các vấn đề phát sinh của nền kinh tế, nhưng vẫn đạt được kết quả tăng trưởng tích cực trong quý II và 6 tháng đầu năm", Thứ trưởng nói.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng cho biết, năm 2026 cũng là thời điểm ngay sau khi hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương. Theo thông lệ quốc tế, sau những đợt cải cách lớn, các quốc gia thường cần một khoảng thời gian để ổn định trước khi triển khai các nhiệm vụ phát triển. Tuy nhiên, Việt Nam đã rút ngắn đáng kể thời gian chuyển tiếp, nhanh chóng đưa bộ máy mới vào vận hành và tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngay từ đầu nhiệm kỳ.
Đề cập đến những tác động từ bên ngoài, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết, xung đột tại Trung Đông đã gây sức ép lớn đối với nguồn cung và giá năng lượng toàn cầu, buộc Chính phủ phải nhanh chóng rà soát nguồn dự trữ, các đơn hàng nhập khẩu và xây dựng phương án bảo đảm không để gián đoạn nguồn cung nhiên liệu cho nền kinh tế.
Trong giai đoạn đầu, nguồn cung nhiên liệu hàng không bị ảnh hưởng, buộc phải cắt giảm một số chuyến bay, qua đó tác động đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chỉ sau chưa đầy một tháng, Chính phủ đã kịp thời điều chỉnh nguồn cung, bảo đảm đủ nhiên liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân.
Trước áp lực giá năng lượng tăng cao, Chính phủ đồng thời triển khai các giải pháp bình ổn thị trường, phát huy vai trò của Quỹ Bình ổn giá xăng dầu nhằm hạn chế biến động giá, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Khi dự báo quỹ có nguy cơ không còn đủ nguồn lực, Bộ Tài chính đã báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét cơ chế tạm ứng từ ngân sách để duy trì hiệu quả điều hành giá.
Cùng với đó, trên cơ sở dự báo xung đột có thể kéo dài, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ trình cấp có thẩm quyền giảm thuế nhập khẩu xăng dầu xuống 0% nhằm tạo thêm dư địa kiểm soát giá trong nước. Theo Thứ trưởng, việc chủ động dự báo tình hình và triển khai đồng bộ các công cụ điều hành đã giúp Việt Nam hạn chế tác động từ biến động giá năng lượng thế giới, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện để nền kinh tế đạt mức tăng trưởng tích cực trong 6 tháng đầu năm.
Hai nguyên nhân chính dẫn đến nhập khẩu tăng
Đánh giá về những thách thức trong 6 tháng cuối năm, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho rằng áp lực lớn nhất là phải đạt các chỉ tiêu tăng trưởng ở mức cao hơn nhiều so với nửa đầu năm. Để hoàn thành mục tiêu, tinh thần quyết tâm cần được lan tỏa tới từng cấp, từng ngành, từng địa phương và từng cán bộ thực thi.
"Qua làm việc với các bộ, ngành và địa phương, tôi nhận thấy ở đâu cũng rất quyết tâm tìm giải pháp để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng. Đây là tín hiệu rất tích cực", Thứ trưởng nói.
Về cán cân thương mại, Thứ trưởng cho biết nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại trước tình trạng nhập siêu. Tuy nhiên, theo ông, có hai nguyên nhân chính dẫn đến mức nhập khẩu tăng.
Thứ nhất là yếu tố khách quan khi giá năng lượng và nhiều loại hàng hóa trên thế giới tăng cao, làm tăng giá trị nhập khẩu. Việt Nam vẫn là nền kinh tế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất và xuất khẩu, đồng thời phải chi trả chi phí vận tải quốc tế và nhập khẩu xăng dầu với giá cao.
Thứ hai là sự gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện điện tử phục vụ sản xuất. Theo Thứ trưởng, nhiều tập đoàn công nghệ lớn nước ngoài đã bước vào giai đoạn sản xuất đầu tiên tại Việt Nam, kéo theo nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng chủ động nhập nguyên liệu để chuẩn bị cho mùa sản xuất, xuất khẩu cuối năm.
"Chúng tôi kỳ vọng lượng nguyên liệu, thiết bị công nghệ được nhập khẩu trong giai đoạn này sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới và là nền tảng để xuất khẩu tăng mạnh vào những tháng cuối năm, qua đó bù đắp một phần áp lực nhập siêu do giá năng lượng tăng cao", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Các động lực tăng trưởng 6 tháng cuối năm
Về các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết: "Chính phủ đã đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong các nghị quyết điều hành. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải phát huy đồng bộ tất cả các động lực tăng trưởng, không thể chỉ trông chờ vào một lĩnh vực hay một nguồn lực".
Theo Thứ trưởng, tăng trưởng chỉ bền vững khi các động lực như đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, tiêu dùng và xuất khẩu cùng được thúc đẩy. Ông dẫn ví dụ, có địa phương thu hút nhiều dự án FDI nhưng tăng trưởng vẫn thấp do giải ngân đầu tư công chưa đạt yêu cầu. "Các động lực phải cùng tăng, nếu một động lực bứt lên nhưng động lực khác chững lại thì rất khó đạt mục tiêu chung", ông nói.
Thứ trưởng cũng cho biết hai quý cuối năm luôn là giai đoạn tăng tốc của nền kinh tế khi hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và đầu tư đều diễn ra sôi động. Tuy nhiên, điều này cũng tạo áp lực lớn đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô, nhất là kiểm soát lạm phát và cân đối các nguồn lực.
Với mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%, dư địa điều hành trong những tháng cuối năm không còn nhiều. Vì vậy, việc điều chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý như điện, giáo dục và y tế sẽ được tính toán rất thận trọng. Các phương án điều chỉnh phải được phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, không để nhiều mặt hàng cùng tăng giá trong một thời điểm nhằm hạn chế tác động đến chỉ số giá tiêu dùng.
Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành để kiểm soát giá xăng dầu, hạn chế các cú sốc từ thị trường thế giới, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ trưởng Trần Quốc Phương bày tỏ tin tưởng, với quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương cùng kết quả tích cực đạt được trong 6 tháng đầu năm, nền kinh tế sẽ có thêm động lực để hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng của cả năm 2026.
Trả lời câu hỏi của các phóng viên về nguồn thu ngân sách nhà nước trong 6 tháng đầu năm, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết tổng thu ngân sách đạt hơn 1,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 62% dự toán cả năm.
Theo Thứ trưởng, nguồn thu lớn nhất đến từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đạt khoảng 387 nghìn tỷ đồng, bằng 76,9% dự toán năm và tăng 49% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng rất tích cực, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân.
"Doanh nghiệp có sản xuất, kinh doanh hiệu quả thì mới phát sinh doanh thu và nộp thuế. Kết quả này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục tăng trưởng tốt, đồng thời khẳng định hiệu quả của các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tư nhân", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Nguồn thu lớn thứ hai là thu từ đất, đạt khoảng 277 nghìn tỷ đồng. Mặc dù thấp hơn cùng kỳ năm trước, Thứ trưởng cho rằng đây là tín hiệu tích cực, cho thấy cơ cấu thu ngân sách đang dịch chuyển theo hướng bền vững hơn, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ đất.
Bên cạnh đó, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt khoảng 118 nghìn tỷ đồng, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp khoảng 214 nghìn tỷ đồng. Đây đều là những nguồn thu quan trọng, góp phần tạo nền tảng cho kết quả thu ngân sách tích cực trong 6 tháng đầu năm.
Trả lời câu hỏi về những động lực chính của tăng trưởng, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết xét về phía cung, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng nhất, với tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Về phía cầu, đầu tư vẫn giữ vai trò then chốt. Theo Thứ trưởng, việc thúc đẩy đầu tư, đặc biệt là thu hút vốn FDI, đang được các địa phương xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu nhằm tạo thêm năng lực sản xuất và động lực tăng trưởng mới.
Đối với câu hỏi về nguồn vốn cho nền kinh tế, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết vốn là yếu tố "cốt tử" đối với tăng trưởng. Theo chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, Bộ Tài chính đang hoàn thiện Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn và giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Định hướng của đề án là phát triển cân bằng hơn giữa các kênh huy động vốn, bao gồm thị trường trái phiếu, chứng khoán, huy động vốn nước ngoài và các công cụ tài chính khác, qua đó tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế.