|
Cần quy định rõ đối tượng áp dụng, bảo đảm chặt chẽ trong định danh điện tử
Góp ý về đối tượng áp dụng tại Điều 2 dự thảo Luật, đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cơ bản thống nhất với quy định của dự thảo. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ nhóm các đối tượng có liên quan, bảo đảm quy định cụ thể, minh bạch và thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện.
Theo đại biểu, dự thảo Luật xác định các nhóm đối tượng áp dụng gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia vào các hoạt động định danh và xác thực điện tử tại Việt Nam. Tuy nhiên, dự thảo còn đề cập đến nhóm các đối tượng có liên quan nhưng chưa giải thích cụ thể những đối tượng này là ai, thuộc nhóm nào. Do đó, cần nghiên cứu, quy định rõ các đối tượng có liên quan ngay trong điều khoản về đối tượng áp dụng.
Phân tích thêm về sự cần thiết đưa tổ chức, cá nhân nước ngoài vào phạm vi điều chỉnh của Luật, đại biểu cho rằng quy định này cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều hoạt động có tính chất xuyên biên giới diễn ra ngày càng phổ biến.
“Có những đối tượng hoạt động từ nước ngoài nhưng có liên hệ, tương tác với các cá nhân, tổ chức trong nước và tham gia vào các hoạt động liên quan đến định danh điện tử. Những hoạt động này có thể phát sinh các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ lợi ích quốc gia”, đại biểu lưu ý.
Đại biểu nhấn mạnh, việc quy định rõ phạm vi áp dụng đối với các đối tượng nước ngoài sẽ tạo cơ sở pháp lý để quản lý chặt chẽ, chủ động kiểm soát các hoạt động có liên quan, qua đó hạn chế thấp nhất nguy cơ xâm phạm lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Bảo đảm kế thừa dữ liệu, mã định danh, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin
Góp ý về việc kế thừa dữ liệu, mã định danh đã có và xác định rõ trách nhiệm khai thác, sửa sai, đại biểu Sí Thị Mai Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai đề nghị hoàn thiện khoản 5 Điều 11, điểm a khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 12 và khoản 4 Điều 34 của dự thảo Luật.
Theo đại biểu, dự thảo Luật đã cho phép kế thừa quy trình chuyên ngành đáp ứng yêu cầu; đồng thời, khoản 1 Điều 45 quy định bảo lưu danh tính điện tử được tạo lập hợp pháp. Tuy nhiên, việc kế thừa thông tin và kế thừa mã định danh cần được xử lý đồng bộ.
“Nếu đã có dữ liệu nhưng người dân vẫn phải khai lại, hoặc cấp thêm mã mà không liên kết với mã cũ, lợi ích giảm thủ tục sẽ khó đạt được”, đại biểu nhấn mạnh.
Từ đó, đại biểu đề nghị quy định nguyên tắc: mã chuyên ngành hoặc mã theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu thì được xem xét công nhận, sử dụng; trường hợp cần cấp mã định danh quốc gia mới thì phải liên kết với mã đã có. Đồng thời, không yêu cầu đăng ký, thu thập lại thông tin đã đáp ứng điều kiện sử dụng.
Đối với khoản 4 Điều 34, đại biểu đề nghị chuyển từ yêu cầu ưu tiên khai thác sang trách nhiệm chủ động khai thác dữ liệu của cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
“Khi thông tin đã đáp ứng điều kiện sử dụng, cơ quan phải tự khai thác, không yêu cầu người dân xuất trình lại, trừ trường hợp luật quy định khác. Khi chưa khai thác được, phải xác định nguyên nhân và hướng xử lý, tránh yêu cầu bổ sung giấy tờ như một cách giải quyết mặc định”, đại biểu lưu ý.
Đặc biệt, đại biểu cho rằng cần quy định rõ đầu mối và thời hạn xử lý khi dữ liệu giữa các hệ thống không khớp. Theo đó, cơ quan tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm phối hợp xác minh; cơ quan quản lý dữ liệu nguồn sửa thông tin thuộc thẩm quyền; các hệ thống liên quan cập nhật kết quả. Đồng thời, phải lưu vết việc chỉnh sửa và thông báo cho chủ thể dữ liệu.
Đại biểu đề nghị Luật xác định rõ nguyên tắc, trách nhiệm; Chính phủ quy định quy trình, thời hạn cụ thể. Qua đó, bảo đảm người dân không phải tự đi nhiều cơ quan để giải quyết sai lệch trong những hệ thống do cơ quan, tổ chức quản lý.
Làm rõ giá trị pháp lý của kết quả xác thực điện tử, bảo vệ quyền lợi các bên giao dịch
Cho ý kiến về giá trị xác thực điện tử và việc sử dụng kết quả xác thực điện tử quy định tại Điều 29 dự thảo Luật, đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long đánh giá cao quy định tại khoản 4 Điều 29 về việc kết quả xác thực điện tử chỉ có giá trị trong phạm vi giao dịch đã được xác thực; đồng thời, việc công nhận sự chấp thuận của chủ thể phải gắn với nội dung giao dịch, thời điểm giao dịch và hành vi xác nhận cụ thể.
“Đây là quy định quan trọng nhằm bảo đảm tính chặt chẽ về pháp lý, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch”, đại biểu khẳng định.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quan tâm làm rõ thêm mối quan hệ giữa việc xác thực danh tính với việc thể hiện ý chí của người tham gia giao dịch. Theo đại biểu, trong một số trường hợp, việc xác thực được danh tính của một người chưa hẳn đã phản ánh đầy đủ ý chí tự nguyện của người đó đối với nội dung giao dịch.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung vào khoản 4 Điều 29 nội dung: Kết quả xác thực điện tử là căn cứ xác nhận danh tính của chủ thể trong phạm vi giao dịch được xác thực; việc xác định ý chí tự nguyện, năng lực hành vi dân sự, thẩm quyền đại diện và hiệu lực pháp lý của giao dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan.
Đại biểu cũng đề nghị trong quá trình tổ chức thực hiện, đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc có thể làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý quan trọng, cần có phương thức thông báo, xác nhận nội dung giao dịch rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với từng nhóm người sử dụng. Theo đại biểu, điều này sẽ giúp người dân, nhất là người cao tuổi, có thêm sự an tâm khi thực hiện các giao dịch trên môi trường điện tử.
Kiểm soát chặt chẽ việc công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử của nước ngoài
Đóng góp ý kiến tại điểm c khoản 2 Điều 38 dự thảo Luật về việc cho phép các tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử tại Việt Nam quyết định công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử do tổ chức nước ngoài cung cấp để phục vụ hoạt động của mình, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ Tô Ái Vang bày tỏ băn khoăn về nguy cơ phát sinh lỗ hổng trong quản lý nếu không có sự kiểm soát tối cao của Nhà nước.
“Các thế lực thù địch hoặc tội phạm quốc tế có thể sử dụng các danh tính điện tử quốc tế để giả mạo, hoặc danh tính điện tử từ các quốc gia không có Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam để thực hiện hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố, hoặc can thiệp vào an ninh kinh tế”, đại biểu lưu ý.
Bên cạnh đó, đại biểu đặt câu hỏi, trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam tự công nhận nhưng khi xảy ra sự cố phá hoại an ninh nghiêm trọng từ tài khoản nước ngoài, thì ai sẽ chịu trách nhiệm hình sự và dân sự khi việc truy vết vượt khỏi biên giới quốc gia.
Từ đó, đại biểu kiến nghị bổ sung quy định theo hướng các tổ chức cung cấp dịch vụ tại Việt Nam không được tự quyết định công nhận, mà chỉ được phép chấp nhận các danh tính điện tử nước ngoài nằm trong Danh mục các hệ thống định danh nước ngoài được Bộ Công an cấp phép hoặc công nhận dựa trên các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương hay đa phương mà Việt Nam đã ký kết.
Cùng đóng góp ý kiến vào Điều 38 của dự thảo Luật về việc công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực của nước ngoài, đại biểu Trần Mạnh Huy, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng nhấn mạnh, điều khoản này có hệ quả lớn, quyết định người dân và doanh nghiệp Việt Nam có thể tin cậy đến đâu khi giao dịch với đối tác bên kia biên giới.
Theo đại biểu, khoản 2 đã quy định rõ quyền của tổ chức cung cấp dịch vụ được thay đổi trạng thái công nhận, nhưng khoản 4 mới chỉ giao Chính phủ quy định chi tiết, chưa nêu rõ trách nhiệm của các bên và việc xử lý hậu quả pháp lý đối với giao dịch đã phát sinh khi công nhận bị tạm dừng, hủy bỏ hoặc chấm dứt.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 38 ba nguyên tắc:
- Thứ nhất, quyết định tạm dừng, hủy bỏ hoặc chấm dứt công nhận phải xác định rõ phạm vi, thời điểm có hiệu lực và trách nhiệm thông báo cho bên liên quan.
- Thứ hai, việc thay đổi trạng thái công nhận không tự động làm mất hiệu lực của giao dịch đã xác lập trước đó. Hiệu lực giao dịch được xác định theo pháp luật áp dụng.
- Thứ ba, phải xác định trách nhiệm bảo toàn chứng cứ, phối hợp xác minh, khắc phục sai sót và bồi thường thiệt hại khi có căn cứ. Phần trình tự, thủ tục và yêu cầu kỹ thuật giao Chính phủ quy định chi tiết.
“Kết nối được danh tính mới chỉ là bước đầu. Niềm tin số chỉ hình thành từ những quy tắc rõ ràng, có thể dự đoán và có người chịu trách nhiệm. Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ phần đã được pháp luật hiện hành điều chỉnh và bổ sung các nguyên tắc còn thiếu, để có một cơ chế vừa ngăn chặn gian lận hiệu quả, vừa giữ ổn định cho các giao dịch hợp pháp”, đại biểu nêu rõ.
Hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và bảo vệ dữ liệu định danh điện tử
Giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang tập trung làm rõ phạm vi đối tượng định danh điện tử; việc bảo vệ quyền riêng tư, nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, đồng bộ dữ liệu định danh, xác thực; cũng như cơ chế liên kết tài khoản giao dịch với danh tính điện tử và phòng ngừa rủi ro giả mạo danh tính trên môi trường điện tử.
Về phạm vi đối tượng định danh điện tử, Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, tại Điều 7 dự thảo Luật xác định phạm vi các nhóm đối tượng được định danh điện tử. Trong đó, nhóm đối tượng định danh do cơ quan nhà nước thực hiện được quy định tại Điều 8, gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân, địa điểm, không gian; đối tượng có thông tin thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng được chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và đối tượng thuộc bí mật nhà nước.
Các nhóm đối tượng định danh điện tử còn lại do tổ chức cung cấp dịch vụ đủ điều kiện thực hiện theo nhu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đồng thời, dự thảo Luật giao Chính phủ quy định danh mục và lộ trình thực hiện đối với nhóm đối tượng do cơ quan nhà nước thực hiện, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn chuyển đổi số ở nước ta.
Đối với nhóm đối tượng đã có cơ chế định danh hoặc quản lý tương tự theo pháp luật chuyên ngành, dự thảo Luật quy định theo hướng: trường hợp thông tin để tạo lập danh tính điện tử đã có đầy đủ, chính xác trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì cơ quan nhà nước tự động thực hiện quy trình tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh quốc gia cho đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật. Như vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải cung cấp lại thông tin để tạo lập danh tính điện tử hoặc thực hiện thủ tục đăng ký định danh điện tử.
Về việc bảo vệ quyền riêng tư, nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu và đồng bộ dữ liệu định danh, xác thực, Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, dự thảo Luật đã thiết kế nhiều lớp bảo vệ quyền riêng tư, trong đó quy định việc thu thập dữ liệu tối thiểu, phải có sự đồng ý của chủ thể; không đồng bộ nội dung giao dịch, không chia sẻ kết quả xác thực ngoài phạm vi cho phép.
Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động định danh và xác thực điện tử được thực hiện chặt chẽ theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, mục đích xử lý dữ liệu cá nhân không có sự thay đổi. Hoạt động định danh và xác thực điện tử phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc khai thác, sử dụng danh tính điện tử phải bảo mật thông tin, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bộ trưởng cho biết, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát các quy định có liên quan, tham mưu Chính phủ quy định chi tiết việc thu thập, khai thác, sử dụng dữ liệu về định danh và xác thực điện tử, bảo đảm chặt chẽ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể.
Đối với việc liên kết tài khoản giao dịch với danh tính điện tử và cơ chế phòng ngừa rủi ro giả mạo danh tính trên môi trường điện tử, Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, khoản 5 Điều 23 dự thảo Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tài khoản giao dịch điện tử để giao dịch điện tử trực tuyến trong các lĩnh vực chứng khoán, viễn thông, ngân hàng, bưu chính, thương mại điện tử, khám bệnh, chữa bệnh, trung gian thanh toán, ví điện tử, tài sản mã hóa, trò chơi điện tử trực tuyến, dịch vụ đăng ký, cho thuê và sử dụng tên miền và các lĩnh vực khác có rủi ro cao hoặc phát sinh nghĩa vụ pháp lý quan trọng thì phải xác thực với danh tính điện tử quốc gia và liên kết tài khoản giao dịch điện tử với danh tính điện tử đó.