Hoàn thiện dự án Luật Định danh và xác thực điện tử: Đề nghị luật hóa cụ thể quy trình truy vết và siết chặt nhật ký khai thác thông tin

Sáng 4/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Qua nghiên cứu, các đại biểu Quốc hội tập trung đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc nhằm hoàn thiện các quy định về khai thác, sử dụng danh tính điện tử, bảo đảm quyền tiếp cận của mọi người dân, siết chặt quản lý nhật ký xác thực, bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng như làm rõ thẩm quyền trong hoạt động truy vết danh tính điện tử.

Bổ sung giải pháp hỗ trợ người cao tuổi, người yếu thế tiếp cận dịch vụ số và hoàn thiện quy định xác thực điện tử

Tại điểm a khoản 3 Điều 16, dự thảo luật quy định việc khai thác, sử dụng danh tính điện tử thông qua Ứng dụng định danh quốc gia. Cho rằng đây là quy định cần thiết, phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động quản lý và phục vụ người dân, đại biểu Thạch Phước Bình, đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long nhấn mạnh việc sử dụng ứng dụng định danh điện tử sẽ góp phần giảm bớt giấy tờ, tiết kiệm thời gian và tạo thuận lợi trong thực hiện các thủ tục, giao dịch.

Đại biểu Thạch Phước Bình, đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu
Đại biểu Thạch Phước Bình, đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long phát biểu

Tuy nhiên, từ thực tiễn đời sống, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị cơ quan soạn thảo quan tâm thêm đến điều kiện sử dụng công nghệ của một bộ phận người dân, nhất là người cao tuổi, người khuyết tật, người sinh sống tại các địa bàn còn khó khăn hoặc những người chưa quen sử dụng các thiết bị thông minh.

Cụ thể, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định Điều 16 theo hướng: Cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ có trách nhiệm tạo điều kiện, hỗ trợ hoặc áp dụng phương thức xác minh, xác thực phù hợp đối với người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và những người gặp khó khăn trong việc sử dụng phương tiện điện tử; bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ công và dịch vụ thiết yếu theo quy định của pháp luật.

“Việc bổ sung nội dung này sẽ góp phần làm cho Luật có tính nhân văn và khả thi cao hơn, thể hiện rõ tinh thần chuyển đổi số toàn dân, toàn diện và không để ai bị bỏ lại phía sau”, đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Về Hoạt động xác thực điện tử tại khoản 5 Điều 23, đại biểu Thạch Phước Bình đánh giá cao quy định về xác thực và liên kết tài khoản giao dịch điện tử với danh tính điện tử quốc gia trong các lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, viễn thông, thương mại điện tử, khám bệnh, chữa bệnh và các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa giả mạo danh tính, bảo vệ tài sản của người dân và góp phần xây dựng môi trường giao dịch điện tử an toàn, đáng tin cậy.

Tuy nhiên, đại biểu cũng chỉ rõ trong thực tế, các giao dịch trong cùng một lĩnh vực có thể có tính chất và mức độ rủi ro khác nhau. Nếu có sự phân loại phù hợp giữa các nhóm giao dịch sẽ giúp bảo đảm được yêu cầu an toàn và tạo thuận lợi hơn cho người sử dụng.

Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung tại khoản 5 Điều 23 nguyên tắc: Việc xác thực điện tử và liên kết tài khoản giao dịch điện tử được thực hiện phù hợp với tính chất, mức độ rủi ro của giao dịch, yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh và quy định của pháp luật chuyên ngành; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 23, đề nghị khi quy định các giao dịch bắt buộc xác thực trong từng lĩnh vực cần có sự thống nhất về tiêu chí và phương thức thực hiện, để tránh phát sinh những yêu cầu khác nhau gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Bảo đảm người dân vùng khó khăn tiếp cận dịch vụ công và dịch vụ thiết yếu

Khoản 2 Điều 10 dự thảo luật quy định đăng ký trực tuyến, trực tiếp hoặc kết hợp, nhưng khoản 3 Điều 10 lại cho phép cung cấp một hoặc nhiều phương thức. Theo đại biểu Sí Thị Mai Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai, quy định này cần được xem xét cùng khả năng sử dụng dịch vụ sau đăng ký. “Đối với địa bàn miền núi, biên giới cần dự liệu trường hợp người dân không có thiết bị phù hợp, không xác thực được bằng sinh trắc học hoặc kết nối bị gián đoạn. Những trở ngại này có thể khiến họ phải đi lại nhiều lần, chậm giải quyết thủ tục, dù vẫn có giấy tờ hợp pháp để xác minh danh tính”, đại biểu Sí Thị Mai Anh phân tích.

Đại biểu Sí Thị Mai Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai phát biểu
Đại biểu Sí Thị Mai Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai phát biểu

Qua phân tích, đại biểu Sí Thị Mai Anh đề nghị quy định ngay trong Luật: đối với dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu, cơ quan, tổ chức cung cấp phải duy trì phương thức xác thực trực tiếp hoặc phương thức thay thế đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy, an toàn, phù hợp pháp luật chuyên ngành. Khi hệ thống gặp sự cố, phải có quy trình tiếp nhận, xác minh và tiếp tục xử lý; người dân được thông báo, hướng dẫn rõ ràng. Chính phủ quy định phương thức tương ứng với mức độ rủi ro, việc xác thực thông qua người đại diện hợp pháp và điều kiện áp dụng.

Bên cạnh đó, đại biểu Sí Thị Mai Anh cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm UBND cấp xã tại Điều 40 dự thảo luật. Cụ thể: UBND cấp xã tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ tại cơ sở; cơ quan quản lý định danh, đơn vị cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm chuyên môn và xử lý sự cố. Có cơ chế đăng ký lưu động cho người khó đi lại, bảo đảm an toàn dữ liệu. Đại biểu nhấn mạnh, việc giao nhiệm vụ phải đi cùng đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật dùng chung và kinh phí; nghiên cứu hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho địa phương khó khăn. Lộ trình triển khai cần căn cứ mức độ sẵn sàng, tránh để chính sách ưu tiên chỉ dừng ở định hướng.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Hoàn thiện cơ chế đồng bộ nhật ký xác thực, vừa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm vừa bảo đảm quyền công dân

Quan tâm về quy định ghi nhận dữ liệu và đồng bộ nhật ký xác thực tại Điều 28 và Điều 33 dự thảo luật, đại biểu Dương Khắc Mai, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nhận thấy khoản 2 Điều 28 yêu cầu ghi nhận mọi hoạt động xác thực đồng bộ về hệ thống quốc gia. Điểm b khoản này cũng đã nêu việc đồng bộ nhật ký không bao gồm nội dung giao dịch; còn báo cáo giải trình nhấn mạnh yêu cầu truy vết, phòng chống gian lận và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Đại biểu Dương Khắc Mai, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu
Đại biểu Dương Khắc Mai, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu

Bày tỏ thống nhất sự cần thiết phải lưu vết, nhưng theo đại biểu Dương Khắc Mai, dữ liệu lịch sử xác thực nếu được tập trung quá rộng và lưu giữ kéo dài có thể làm lộ thói quen giao dịch, ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người dân. Vì vậy, luật cần quy định nguyên tắc: chỉ đồng bộ trường hợp thông tin tối thiểu phục vụ xác minh, truy vết; giới hạn mục đích khai thác, phân quyền truy cập và xác định thời hạn lưu giữ theo từng loại dữ liệu. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế ghi nhận truy cập, kiểm tra độc lập, xử lý truy cập trái phép và cho phép chủ thể tra cứu, yêu cầu giải trình đối với việc khai thác dữ liệu của mình, trừ trường hợp luật có quy định khác. Như vậy mới cân bằng được yêu cầu bảo đảm an ninh với bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Đại biểu Trần Thị Ngọc Diễm, đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ phát biểu
Đại biểu Trần Thị Ngọc Diễm, đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ phát biểu

Để dữ liệu nhật ký xác thực thực sự chuyển hóa thành chứng cứ điện tử hợp pháp phục vụ điều tra hình sự và xử phạt vi phạm hành chính về an ninh mạng, đại biểu Trần Thị Ngọc Diễm, đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ kiến nghị:

Một là, mọi hoạt động xác thực phải được ghi nhận đầy đủ vào nhật ký xác thực và lưu trữ: Đề nghị tại khoản 2 Điều 28, quy định rõ các trường thông tin kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải có trong nhật ký xác thực nhằm phục vụ truy vết tội phạm, gồm: mã định danh, thời gian chuẩn đồng bộ quốc gia, địa chỉ IP nguồn, thông tin định danh thiết bị đầu cuối, phương thức và mức độ xác thực.

Hai là, đối với mô hình xác thực độc lập tại điểm b khoản 2 Điều 28: Cần quy định rõ tần suất đồng bộ nhật ký xác thực về Hệ thống định danh và xác thực điện tử của Bộ Công an theo thời gian thực hoặc định kỳ trong ngày; tránh việc các tổ chức lưu trữ cục bộ lâu ngày, dẫn đến nguy cơ bị can thiệp hoặc xóa dấu vết khi xảy ra sự cố an ninh mạng.

Ba là, đối với dữ liệu về kết quả xác thực tại khoản 3 và khoản 4 Điều 28: Đề nghị bổ sung yêu cầu nhật ký xác thực khi lưu trữ và trích xuất phải được áp dụng chữ ký số và dấu thời gian của hệ thống quản lý nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ. Điều này giúp cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể sử dụng trực tiếp làm chứng cứ mà không phát sinh thủ tục giám định lại.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Bổ sung đầy đủ nguyên tắc, thẩm quyền truy vết danh tính điện tử ngay trong dự thảo luật

Quan tâm Điều 31 dự thảo luật quy định về truy vết danh tính điện tử, đại biểu Phạm Thế Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa chỉ rõ trong khi khoản 11 và khoản 12, Điều 3 đã quy định rất rõ chủ thể có yêu cầu xác thực danh tính điện tử và cơ quan có thẩm quyền thực thi việc xác thực danh tính điện tử, thì đối với hoạt động truy vết danh tính điện tử tại Điều 31 lại chưa quy định rõ: chủ thể nào có yêu cầu truy vết danh tính điện tử; cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền phê duyệt yêu cầu; và cơ quan, tổ chức nào được quyền thực thi hành động truy vết.

Đại biểu Phạm Thế Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa phát biểu
Đại biểu Phạm Thế Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa phát biểu

Dù báo cáo giải trình đã nêu các quy trình, thủ tục này sẽ được hướng dẫn tại Nghị định, tuy nhiên, đại biểu Phạm Thế Anh cho rằng, các nội dung trên cần được quy định cụ thể ngay trong dự thảo luật nhằm đảm bảo chặt chẽ hơn về mặt nguyên tắc. “Quyền truy vết danh tính điện tử không tương đương với quyền xác thực điện tử. Phạm vi dữ liệu của quyền truy vết danh tính điện tử rộng và nhiều hơn so với phạm vi dữ liệu của quyền xác thực điện tử, bao gồm cả xác lập lịch sử nguồn gốc, các biến động và các đối tượng liên kết với danh tính điện tử. Do đó, việc dự thảo luật quy định rõ chủ thể thực hiện xác thực nhưng lại bỏ ngỏ chủ thể trong hoạt động truy vết là chưa phù hợp, cần được bổ sung cụ thể vào Điều 31 để bảo đảm tính chặt chẽ, đồng bộ”, đại biểu Phạm Thế Anh nêu rõ.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đoàn ĐBQH thành phố Huế
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đoàn ĐBQH thành phố Huế

Cùng góp ý quy định về truy vết danh tính điện tử, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đoàn ĐBQH thành phố Huế nhận thấy khoản 1, Điều 31 cho phép truy vết nguồn gốc tạo lập kết quả xác thực, các biến động và quan hệ liên kết; còn khoản 3, Điều 31 đã giới hạn theo phạm vi khai thác dữ liệu của chủ thể yêu cầu. Tuy nhiên, các quy định này hiện chưa làm rõ căn cứ, thẩm quyền và trình tự thực hiện. Do đó, đại biểu đề nghị quy định rõ: việc truy vết phải nêu cụ thể mục đích, căn cứ pháp lý, đối tượng, phạm vi thông tin và thời gian thực hiện; hoạt động truy vết phải được cấp phép và kiểm soát chặt chẽ, không phải mọi nhu cầu xác minh đều được phép truy xuất toàn bộ lịch sử liên kết.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Ngoài ra, để hoàn thiện quy định về khai thác, sử dụng và chia sẻ dữ liệu tại Điều 34, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị làm rõ ba giới hạn: Sự đồng ý phải cụ thể về dữ liệu, mục đích, bên tiếp nhận và thời hạn; Bên khai thác chỉ được tiếp cận thông tin cần thiết; Việc chia sẻ cho bên thứ ba hoặc thay đổi mục đích phải có căn cứ pháp luật hoặc có sự đồng ý hợp lệ mới.

Theo đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 3, khoản 4 Điều 34 và các khoản 2, 3, 4 Điều 16 quy định: hoạt động truy cập, khai thác, chia sẻ phải ghi nhật ký về người truy cập, thời điểm, mục đích và dữ liệu tiếp cận. Chủ thể có quyền tra cứu lịch sử khai thác (trừ các trường hợp luật hạn chế thông báo).

Bên cạnh đó, đại biểu Nguyễn Thị Sửu cũng đề nghị Điều 16 dự thảo luật cần phân biệt rõ giá trị sử dụng của từng nhóm danh tính với quyền khai thác dữ liệu cấu thành danh tính. “Danh tính có giá trị trong giao dịch thủ tục hành chính không đồng nghĩa với việc mọi thông tin kèm theo đều phải được cung cấp. Đề nghị chỉ xác nhận thuộc tính cần thiết ở từng thời điểm, hạn chế chuyển giao toàn bộ hồ sơ; đồng thời cơ quan tiếp nhận phải nêu rõ căn cứ và mục đích yêu cầu. Cách tiếp cận này vừa tạo thuận lợi cho giao dịch điện tử, vừa giảm thiểu nguy cơ lộ, lọt thông tin không liên quan”, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh phát biểu kết luận
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh phát biểu kết luận

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đánh giá cao công tác chuẩn bị của Chính phủ cũng như cơ quan chủ trì soạn thảo; đồng thời ghi nhận những ý kiến góp ý tâm huyết, sâu sắc, thẳng thắn và trách nhiệm của các đại biểu đối với dự án luật. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho rằng, đây là cơ sở quan trọng để cơ quan thẩm tra và cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự thảo luật, bảo đảm hiệu quả thực thi sau khi được Quốc hội thông qua.

Theo đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đề nghị sau phiên họp, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phối hợp với Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổng hợp đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội gửi cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan liên quan. Trên cơ sở đó, đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cùng các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu; báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp thứ 2 này.

Các đại biểu tham dự tại Hội trường
Các đại biểu tham dự tại Hội trường

Kết nối đầu tư