|
| Nhiều nhà thầu giao thông chủ động tìm kiếm nguồn cung vật liệu, ưu tiên thi công dứt điểm những đoạn tuyến đã đủ mặt bằng, vật liệu và điều kiện nghiệm thu để bảo đảm tiến độ dự án. Ảnh: Lê Công |
Vật liệu khai thác tự nhiên chịu sức ép lớn
Rà soát các công bố giá vật liệu xây dựng của Sở Xây dựng TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long cho thấy, giá cát, đất đắp và đá xây dựng biến động mạnh. Đây là những nhóm phụ thuộc nhiều vào vị trí mỏ, công suất khai thác, nguồn cung tại từng khu vực và cự ly vận chuyển. Trong khi đó, xi măng PCB40 và thép D16 CB400 tại nhiều nguồn cung được công bố ổn định hơn theo từng kỳ. Tuy nhiên, theo một số nhà thầu tại TP.HCM, ổn định về giá niêm yết không đồng nghĩa áp lực chi phí của nhà thầu ổn định, bởi giá đến công trường còn phụ thuộc vào nhièu yếu tố khác.
Tại Đồng Nai, chuỗi dữ liệu giá được Sở Xây dựng công bố khá dày, gồm giá vật liệu trên thị trường theo tháng và công bố riêng giá tại các mỏ. Phụ lục giá tại mỏ từ tháng 6/2026 của Đồng Nai cho thấy sự phân hóa rất lớn ngay trong cùng một loại vật liệu. Đá 1x2 có giá từ khoảng 145.400 đồng đến trên 221.000 đồng/tấn, tùy mỏ, quy cách và công nghệ chế biến. Đá 2x4 được công bố tại nhiều nguồn với giá từ khoảng 146.500 đồng đến 192.700 đồng/tấn. Đất san lấp có nguồn chỉ 35.600 - 50.000 đồng/tấn, nhưng đất, đá phong hóa và vật liệu san lấp được phân loại khác có thể lên tới 58.600 - 98.600 đồng/tấn. Cát nghiền dùng cho bê tông xi măng được công bố khoảng 182.100 - 220.500 đồng/tấn tại một số nguồn.
Tại Tây Ninh, Sở Xây dựng có Thông báo số 5428/TB-SXD ngày 8/5/2026 công bố giá tháng 4 và Thông báo số 6927/TB-SXD ngày 10/6/2026 công bố giá tháng 5. Do địa bàn Tỉnh hiện gồm các khu vực của Tây Ninh và Long An trước đây, mỗi kỳ công bố được tách thành các phụ lục riêng để phản ánh điều kiện thị trường từng khu vực. Phụ lục khu vực Long An trước đây cho thấy giá đá 1x2 biến động khác nhau giữa các điểm bán. Một nguồn cung đá 1x2 xanh ở mức 810.000 đồng/m³ trong tháng 4 đã lên 814.000 đồng/m³ vào tháng 5. Một số nguồn khác tăng từ 880.000 đồng lên 1,15 triệu đồng/m³ hoặc duy trì ở 850.000 đồng/m³ tùy màu đá, nguồn hàng và địa điểm cung ứng.
Đối với vật liệu sản xuất công nghiệp, dữ liệu Tây Ninh cho thấy mức độ ổn định cao hơn. Giá xi măng Supreme Standard PCB40 của FICO-YTL tại khu vực Long An trước đây được giữ ở mức 80.300 đồng/bao 50 kg trong các kỳ công bố tháng 4 và tháng 5. Một số dòng xi măng PCB40 khác ghi rõ “giá không đổi”. Thép D16 CB400/CB500V của một đơn vị cung cấp được công bố ở mức 15.480 đồng/kg, chưa gồm vận chuyển và chi phí hạ cẩu, không thay đổi giữa hai phụ lục được đối chiếu.
Rà soát thị trường cho thấy nhóm vật liệu khai thác tự nhiên đang biến động mạnh và phân hóa sâu hơn; còn xi măng, thép tại một số nguồn tương đối ổn định trong ngắn hạn.
Không thể chờ giá giảm mới thi công
Với nhà thầu, áp lực không chỉ là giá vật liệu tăng. Một nhà thầu thi công cầu An Biên - Rạch Giá (tỉnh An Giang) cho biết, nguồn đá gần công trường cạn dần hoặc không đáp ứng chất lượng, nhà thầu phải chuyển sang mỏ xa hơn (tỉnh Ninh Thuận trước đây) và vận chuyển bằng đường biển, khiến chi phí vận chuyển, tăng mạnh. Chi phí mua 1 m3 đá xây dựng khi về tới vịnh Rạch Giá lên tới 1,2 triệu đồng.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà thầu tại khu vực phía Nam đang tìm cách quản trị chuỗi cung ứng chủ động hơn. Với cát, đất đắp và đá xây dựng, doanh nghiệp làm việc trực tiếp với nhiều chủ mỏ, kiểm tra trữ lượng, công suất khai thác, chất lượng và đường vận chuyển trước khi ký hợp đồng. Ông Nguyễn Xuân Hiệp, một nhà thầu tại TP.HCM cho biết phải tính toán và dự trữ trước một phần vật liệu, nhất là các loại vật liệu sản xuất công nghiệp như sắt thép, xi măng. “Ngay khi ký hợp đồng xây lắp, nhận tạm ứng và căn cứ vào biểu đồ tiến độ, biện pháp thi công chúng tôi xem xét tín hiệu thị trường, đồng thời huy động nguồn lực tài chính để mua dự trữ một phần vật liệu”, ông Hiệp nói. Biện pháp này giúp giảm nguy cơ công trường phải dừng vì thiếu đầu vào, nhưng lại tạo thêm áp lực vốn lưu động, chi phí kho bãi và bảo quản. Với các gói thầu quy mô lớn, việc ứng tiền mua hàng chục nghìn tấn thép, xi măng hoặc đá không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực thực hiện. Tuy nhiên, biện pháp dự trữ vật liệu không khả thi với nhóm cát, đá bởi tình trạng mất cân đối cung/cầu lớn diễn ra trong nhiều năm gần đây.
Trao đổi với phóng viên, một số nhà thầu đang thi công tại sân bay Long Thành, cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng… cho biết, cát, đá tiếp tục khó khăn cả về nguồn cung và giá. Trong 6 tháng đầu năm, tại Long Thành, nhiều nhà cung cấp báo giá một số vật liệu tăng 25 - 40%. Tại Cần Thơ, nguồn cát, đá cho cao tốc khan hiếm khiến 3 dự án thành phần thuộc cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng phải cân nhắc sử dụng nguồn thương mại và chi phí có thể đội lên cả trăm tỷ đồng. Trong bối cảnh hiện nay, điều chỉnh thứ tự thi công trở thành giải pháp bắt buộc. Nhà thầu ưu tiên thi công dứt điểm những đoạn tuyến đã đủ mặt bằng, vật liệu và điều kiện nghiệm thu; thiết bị được điều chuyển linh hoạt để hạn chế thời gian chờ. Các hạng mục phụ thuộc loại vật liệu đang thiếu có thể được sắp xếp lại, nhưng việc thay đổi chỉ có giới hạn vì tiến độ các lớp nền, móng và mặt đường liên quan chặt chẽ với nhau.
Ông Trần Thanh Liêm, đại diện nhà thầu đảm nhận nhiều gói thầu giao thông tại TP.HCM cho biết, kiểm soát hao hụt trở thành việc thường trực tại mỗi công trình. Khi giá vật liệu tăng hoặc nguồn cung hạn chế, mỗi phần hao hụt vượt định mức đều làm tăng chi phí. Nhà thầu phải kiểm soát từ khâu cân, đo tại mỏ, vận chuyển, tập kết, cấp phát đến sử dụng tại công trường; đồng thời hạn chế tình trạng phương tiện chờ đợi, chạy rỗng hoặc vật liệu không đạt chất lượng.
Tuy nhiên, nỗ lực tự thân của nhà thầu không thể thay thế vai trò của cơ quan quản lý và chủ đầu tư. Quy định của Bộ Xây dựng yêu cầu giá vật liệu được công bố phải phù hợp với giá thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, khả năng và phạm vi cung ứng. Đây là cơ sở quan trọng để lập, quản lý chi phí và xử lý biến động giá trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Thực tế cho thấy các bảng giá địa phương đã ngày càng chi tiết, nhưng vẫn có độ trễ nhất định so với thời điểm thị trường biến động. Các Sở Xây dựng Cần Thơ, Vĩnh Long và TP.HCM có duy trì chuyên mục công bố giá vật liệu xây dựng; Cần Thơ đồng thời đã công bố chỉ số giá xây dựng tháng 1, tháng 2, tháng 3 và quý I/2026. Đồng Nai đã công bố chỉ số giá xây dựng quý I, quý II bên cạnh chuỗi giá vật liệu theo tháng. Tuy nhiên, giá tại mỏ chưa phản ánh đầy đủ giá đến công trường. Nếu thiếu thông tin về cự ly, phương thức vận chuyển, bốc xếp và khả năng cung ứng thực tế, mức giá công bố chỉ là một căn cứ ban đầu; chủ đầu tư và nhà thầu vẫn phải tổ chức khảo sát để xác định giá phù hợp với công trình.