|
| Việc tiếp tục hoàn thiện Luật Đấu thầu có tác động rất lớn đến hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh: Nhã Chi |
Nhận diện khó khăn, vướng mắc thực tiễn
Kết quả rà soát của Bộ Tài chính cho thấy, quá trình triển khai thực hiện Luật Đấu thầu thời gian qua phát sinh một số khó khăn, vướng mắc về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc áp dụng Luật Đấu thầu và các luật có liên quan. Cụ thể, bên cạnh những quy định chung, có tính nguyên tắc, Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật còn quy định một số nội dung mang tính chuyên môn, kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực nhưng chưa có sự phân định rõ ràng về nguyên tắc áp dụng, dẫn đến chồng chéo, thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện pháp luật.
Bên cạnh đó, hiện Luật Đấu thầu quy định điều kiện áp dụng cụ thể đối với từng hình thức lựa chọn nhà thầu, trong đó đấu thầu rộng rãi là hình thức được ưu tiên áp dụng, các hình thức còn lại chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện do Luật quy định. Việc quy định cứng các điều kiện, tiêu chí và trường hợp áp dụng từng hình thức lựa chọn nhà thầu không bảo đảm tính linh hoạt và chưa phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư.
Thực tiễn triển khai cho thấy, pháp luật về đấu thầu và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực đã nhiều lần phải sửa đổi, bổ sung để quy định cơ chế đặc thù lựa chọn nhà thầu hoặc mở rộng các trường hợp chỉ định thầu, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án trọng điểm, cấp bách, dự án hạ tầng chiến lược, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các nhiệm vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các hình thức lựa chọn nhà thầu đang được quy định phân tán, trong đó một số hình thức có tính chất, trình tự thực hiện tương đồng nhưng chưa được ích hợp, chưa bảo đảm tính đơn giản, thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, Bộ Tài chính đề xuất xây dựng Luật Đấu thầu (sửa đổi) theo hướng xác định và phân định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng đấu thầu trong nước và đấu thầu quốc tế, trong đó chỉ áp dụng đấu thầu quốc tế đối với gói thầu mà nhà thầu, hàng hóa trong nước không đáp ứng được hoặc hàng hóa sản xuất được nhưng không đáp ứng một trong các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng; trường hợp cần có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài để nâng cao chất lượng gói thầu, dự án.
Theo Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính), hiện quy trình, thủ tục đấu thầu mặc dù đã được cải cách nhưng vẫn còn một số thủ tục không cần thiết, thời gian thực hiện kéo dài. Luật Đấu thầu cũng chưa quy định rõ ràng tiêu chí, điều kiện áp dụng hình thức đấu thầu trong nước hoặc đấu thầu quốc tế, dẫn đến vướng mắc, lúng túng cho chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền khi lựa chọn áp dụng các hình thức này…
Đại diện một số doanh nghiệp chia sẻ, Luật Đấu thầu quy định cơ chế ưu đãi đối với hàng hóa sản xuất trong nước nhưng chưa đủ mạnh để định hướng, ưu tiên sử dụng hàng hóa, sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất, đặc biệt là sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược nhằm phát triển thị trường trong nước, nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường của nền kinh tế và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong nước…
Ngoài ra, một số nội dung khác của Luật Đấu thầu (như bảo đảm cạnh tranh, hành vi bị cấm, xử lý vi phạm, giải quyết kiến nghị, đấu thầu qua mạng…) cũng cần được nghiên cứu rà soát, sửa đổi để giảm thời gian, chi phí, tăng cường tính minh bạch, bảo đảm tính thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện và khắc phục vướng mắc trong thực tiễn thi hành.
Đề xuất sửa nhiều nội dung, tiếp tục tạo thuận lợi cho hoạt động đấu thầu
Để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập giữa Luật Đấu thầu và các luật có liên quan, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu theo hướng áp dụng Luật này đối với dự án đầu tư có sử dụng đất theo pháp luật về đất đai và dự án đầu tư mà pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực quy định phải tổ chức đấu thầu theo pháp luật về đấu thầu. Trường hợp pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực có quy định riêng về lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực.
Đối với hình thức lựa chọn nhà thầu, Bộ Tài chính đề xuất lược bỏ điều kiện áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu, trao quyền chủ động hơn nữa cho chủ đầu tư được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm áp dụng hình thức phù hợp trên cơ sở bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả. Cùng với đó sẽ bổ sung các hình thức lựa chọn nhà thầu mới trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế với trình tự, thủ tục đơn giản (như đàm phán cạnh tranh) để áp dụng đối với các gói thầu, dự án không thể xác định giá gói thầu hoặc yêu cầu kỹ thuật.
Về quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, Bộ Tài chính đề xuất Luật chỉ quy định nguyên tắc và giao Chính phủ quy định chi tiết quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Đồng thời tiếp tục cắt giảm và đơn giản hóa hơn nữa quy trình, thủ tục theo hướng tinh gọn, thuận lợi và phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là đối với các gói thầu quy mô nhỏ.
Về chính sách ưu tiên, ưu đãi trong đấu thầu, mua sắm hàng hoá xuất xứ trong nước, Bộ Tài chính đề xuất rà soát chính sách ưu đãi trong đấu thầu để phù hợp với các chủ trương, nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân; quy định cơ chế ưu tiên mua sắm sản phẩm xuất xứ trong nước đối với sản phẩm thuộc Danh mục công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đồng thời bổ sung cơ chế bắt buộc sử dụng hàng hóa trong nước sản xuất trong các dự án đầu tư kinh doanh.
Về hợp đồng, Bộ Tài chính đề xuất Luật chỉ quy định nguyên tắc chung và các nội dung đặc thù của hoạt động đấu thầu; bảo đảm đồng bộ với pháp luật dân sự, xây dựng và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực. Cùng với đó là làm rõ việc nhà thầu chính giao công việc cho nhà thầu phụ ngoài phạm vi trong hợp đồng và được chủ đầu tư chấp thuận không phải là hành vi chuyển nhượng thầu; hành vi chuyển nhượng thầu được xác định khi chủ đầu tư chấp thuận cho nhà thầu chính chuyển giao toàn bộ hoặc phần công việc chủ yếu làm thay đổi bản chất vai trò của nhà thầu trúng thầu, không còn trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng. Đồng thời, làm rõ cơ chế điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản để tạo cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh hợp đồng, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về xây dựng, pháp luật về dân sự, thương mại.
Đối với nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu, hành vi bị cấm, xử lý vi phạm và giải quyết kiến nghị, Bộ Tài chính đề xuất hoàn thiện cơ chế giám sát theo hướng thống nhất đầu mối thực hiện chức năng giám sát nhà nước về đấu thầu. Cùng với đó là hoàn thiện quy định về các hành vi thông thầu, chuyển nhượng thầu, gian lận và không bảo đảm cạnh tranh, công bằng, bảo đảm đồng bộ với pháp luật chuyên ngành và phù hợp với thực tiễn. Hoàn thiện cơ chế giải quyết kiến nghị theo hướng chỉ giải quyết kiến nghị về kết quả lựa chọn nhà thầu; đối với hồ sơ mời thầu, quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo cơ chế làm rõ, tăng cường cảnh báo, giám sát và xử lý vi phạm thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Ngoài ra, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi quy định về đấu thầu qua mạng theo hướng thực hiện đấu thầu trên môi trường điện tử là phương thức chủ yếu, được lồng ghép trong toàn bộ quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, đấu thầu quốc tế, chỉ định nhà thầu, nhà đầu tư, đặt hàng và quản lý thực hiện hợp đồng. Số hóa toàn bộ vòng đời gói thầu, dự án và hợp đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu về giá, năng lực, kinh nghiệm, uy tín của nhà thầu, nhà đầu tư, chất lượng và kết quả thực hiện hợp đồng để hỗ trợ lập giá gói thầu, đánh giá nhà thầu, nhà đầu tư, giám sát, cảnh báo rủi ro và lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong các lần tiếp theo.