|
| Các gói thầu nâng cấp hệ thống xử lý khí thải nhà máy nhiệt điện chịu áp lực lớn về tiến độ cải tạo và bảo đảm vận hành an toàn tổ máy hiện hữu. Ảnh: Ngọc Quyết |
Tại Gói thầu số 04 Thiết kế, cung cấp hàng hóa và xây lắp (EPC) thuộc Dự án Nâng cấp hệ thống xử lý khí thải Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Hải Phòng 1 và 2, quá trình đấu thầu xuất hiện diễn biến mới khi phát sinh 3 kiến nghị của nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Cụ thể, theo phản ánh, sau khi Chủ đầu tư gia hạn thời điểm đóng thầu, nhà thầu không kịp hoàn tất thủ tục sửa đổi hiệu lực bảo lãnh do vướng quy trình xác nhận liên ngân hàng giữa Trung Quốc và Việt Nam trong kỳ nghỉ lễ. Vì vậy, nhà thầu đề nghị tiếp tục gia hạn đóng thầu hoặc cho phép bổ sung sửa đổi bảo lãnh sau thời điểm đóng thầu. Trước đó, tại nhiều văn bản làm rõ, các nhà thầu cũng liên tục đề nghị kéo dài thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu (HSDT) từ 37 ngày lên 60 - 90 ngày và điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng từ 7 tháng lên 18 - 22 tháng. Theo lập luận của nhà thầu, với các gói thầu EPC nhiệt điện, chỉ riêng công tác khảo sát, bóc tách hiện trạng, hoàn thiện giải pháp kỹ thuật và thu xếp bảo lãnh ngân hàng đã cần khoảng thời gian đáng kể. Nhà thầu cho rằng, việc “nén” tiến độ có thể kéo theo rủi ro về chất lượng chế tạo, an toàn thi công, nguy cơ dừng tổ máy ngoài kế hoạch và tranh chấp hợp đồng trong quá trình triển khai.
Một điểm đáng chú ý khác là cách tiếp cận dữ liệu kỹ thuật đầu vào. Theo đó, nhiều nhà thầu đề nghị cung cấp thêm bản vẽ kết cấu, dữ liệu vận hành, thông số khí thải, bản vẽ hoàn công, lưu lượng quạt, sơ đồ hệ thống khử lưu huỳnh, sơ đồ đường khói…
Tuy nhiên, theo phản hồi của Chủ đầu tư, tiến độ hoàn thành Dự án trước ngày 31/12/2026 là yêu cầu cấp bách và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Về cách tiếp cận dữ liệu kỹ thuật đầu vào, Chủ đầu tư cho biết sẽ bố trí nhân sự hỗ trợ và đề nghị nhà thầu trực tiếp khảo sát hiện trường để thu thập dữ liệu cần thiết.
Việc xuất hiện liên tiếp các yêu cầu làm rõ và kiến nghị sát thời điểm đóng thầu cho thấy nhiều nhà thầu quan tâm gói EPC tại Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng. Tuy nhiên, việc giữ nguyên áp lực tiến độ, yêu cầu kỹ thuật cao và khối lượng lớn dữ liệu cần bóc tách liệu có ảnh hưởng tới số lượng nhà thầu tham dự thực tế hay không? Trong lĩnh vực nhiệt điện, không hiếm trường hợp gói thầu phát sinh nhiều văn bản đề nghị làm rõ nhưng đến thời điểm mở thầu chỉ có 1 thậm chí không có nhà thầu nộp hồ sơ.
Nếu gói thầu EPC tại Nhiệt điện Hải Phòng nổi bật bởi câu chuyện tiến độ và kiến nghị kéo dài đến sát giờ mở thầu, thì tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí, các tranh luận lại tập trung vào tiêu chí kinh nghiệm và công nghệ. Cụ thể, tại Gói thầu 08EPC-XLKTUB-2026 thuộc Dự án Nâng cấp hệ thống xử lý khí thải tổ máy 300MW và 330MW NMNĐ Uông Bí, nhà thầu phản ánh về yêu cầu hợp đồng EPC tương tự phải được thực hiện ngoài quốc gia của nhà thầu (outside home country). Theo một số nhà thầu, nội dung này có thể gây bất lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc, nơi có số lượng rất lớn dự án ESP (hệ thống lọc bụi tĩnh điện), FGD (hệ thống khử lưu huỳnh trong khói thải) và SCR (khử xúc tác chọn lọc) trong nước nhưng không có nhiều dự án ở thị trường quốc tế. Do vậy, nhà thầu cho rằng năng lực công nghệ và kinh nghiệm không nên chỉ đánh giá thông qua yếu tố “ngoài quốc gia”, bởi lĩnh vực xử lý khí thải nhiệt điện hiện nay tập trung công nghệ khá cao ở một số quốc gia nhất định.
Một số nhà thầu còn cho rằng các mô tả kỹ thuật liên quan đến giải pháp cách ly rung động, thiết bị chống rung… tại gói thầu trên có dấu hiệu định hướng tới công nghệ của một hãng cụ thể, có thể hạn chế các hãng khác tham gia. Trong khi đó, Chủ đầu tư khẳng định đây không phải công nghệ độc quyền, nhà thầu có thể đề xuất các giải pháp tương đương nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Về dữ liệu hồ sơ kỹ thuật, nhà thầu yêu cầu cung cấp nhiều nội dung như: bản vẽ móng, địa chất, sơ đồ điện, DCS, MCC, layout cáp, nền móng SCR, kết cấu thép lò hơi…, gần như toàn bộ hệ sinh thái kỹ thuật của nhà máy. Lý do yêu cầu cung cấp là gói EPC cải tạo trên nền nhà máy cũ có độ phức tạp rất cao, rủi ro kết nối, tương thích và đồng bộ là cực lớn. Tại văn bản làm rõ, Chủ đầu tư cho biết, tài liệu được cung cấp tại hội nghị tiền đấu thầu hoặc yêu cầu nhà thầu tự khảo sát, tự đề xuất giải pháp phù hợp hiện trạng. Trong khi các gói thầu EPC tại Nhiệt điện Hải Phòng, Nhiệt điện Uông Bí vẫn tiếp tục phát sinh các tranh luận quanh HSMT, Gói thầu EPC Thiết kế, cung cấp và lắp đặt hệ thống xử lý khí thải dây chuyền 2 tại NMNĐ Phả Lại đã hoàn thành mở hồ sơ đề xuất kỹ thuật với 2 nhà thầu tham dự gồm: Liên danh PETROCONs - LONGKING CONSORTIUM và Liên danh TUNA XINLONG - IPC CONSORTIUM. Trước thời điểm mở thầu, gói thầu này từng ghi nhận hơn 20 lượt làm rõ tập trung vào các nội dung như tiến độ thực hiện, tiêu chí hợp đồng tương tự và cơ chế liên danh. Với 2 liên danh tham dự được xem là tín hiệu cạnh tranh tích cực hơn so với một số gói EPC nhiệt điện khác chỉ có một nhà thầu nộp HSDT. Tuy vậy, các tranh luận trước mở thầu có thể sẽ tiếp tục chuyển sang giai đoạn đánh giá kỹ thuật, đặc biệt với các nội dung liên quan đến hợp đồng tương tự và giải pháp công nghệ.
Theo một số chuyên gia, sự khác biệt quan điểm giữa nhà thầu và chủ đầu tư là dễ hiểu trong bối cảnh các dự án nâng cấp nhiệt điện có độ phức tạp cao hơn đáng kể so với các gói xây lắp thông thường. Nhà thầu không chỉ phải cung cấp thiết bị, mà còn phải giải quyết đồng thời bài toán tích hợp công nghệ tương thích với tổ máy cũ, đồng bộ kỹ thuật và vừa bảo đảm vận hành liên tục của NMNĐ. Trong khi đó, các chủ đầu tư cũng chịu áp lực lớn về tiến độ cải tạo môi trường, yêu cầu giảm phát thải và bảo đảm vận hành an toàn các tổ máy hiện hữu. Chính yếu tố này khiến quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu EPC trong lĩnh vực nhiệt điện hiện không đơn thuần là câu chuyện về giá, mà đã trở thành cuộc cạnh tranh tổng hợp về công nghệ, kinh nghiệm và khả năng kiểm soát rủi ro kỹ thuật.