Bức tranh kinh tế địa phương nửa đầu năm 2026: Đồng bằng sông Hồng định hình cực tăng trưởng mới

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Nếu như những năm trước, tăng trưởng cao chủ yếu tập trung ở một vài địa phương đơn lẻ thì năm 2026, sau 1 năm sáp nhập và ổn định địa giới hành chính mới, đã hình thành rõ nét các không gian tăng trưởng liên kết theo vùng.

Bức tranh kinh tế địa phương nửa đầu năm 2026: Đồng bằng sông Hồng định hình cực tăng trưởng mới
52.jpg

Ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) nhận định và cho rằng, Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang định hình sự phát triển rõ nét, trở thành cực tăng trưởng mới về công nghiệp - logistics - đổi mới sáng tạo, là một điểm tựa để GDP tăng trưởng 2 con số.

Trong bức tranh tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của các địa phương, đâu là điểm nhấn đáng chú ý, thưa ông?

Bức tranh tăng trưởng GRDP ước tính 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, ĐBSH đang nổi lên là khu vực tăng trưởng năng động nhất cả nước, phản ánh hiệu quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư và liên kết vùng theo các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

6 tháng đầu năm 2026, có 5 trong 6 địa phương vùng ĐBSH ước tính đạt tốc độ tăng trưởng GRDP trên 10%, gồm Ninh Bình (11,4%), Hải Phòng (11,3%), Quảng Ninh (11,1%), Hưng Yên (10,7%) và Bắc Ninh (10,5%). Hà Nội đạt 8,2%. Không chỉ dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng, các địa phương trong vùng ĐBSH còn có quy mô kinh tế rất lớn, đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Khu vực này chiếm 30,3% GDP cả nước, trong đó Hà Nội chiếm 12,4%, Hải Phòng 5,7%, Bắc Ninh 4,1%, Ninh Bình 2,7%, Hưng Yên 2,5% và Quảng Ninh 2,3%.

Với riêng Hà Nội, GRDP 6 tháng đầu năm chỉ tăng 8,2%, cải thiện không đáng kể so với mức tăng 8,16% của năm 2025. Ông đánh giá thế nào về kết quả này?

Tốc độ tăng GRDP của Hà Nội chỉ đạt 8,22%, nhưng xét trên quy mô kinh tế và cơ cấu ngành, Thủ đô vẫn giữ vai trò trung tâm điều phối. Khu vực dịch vụ tiếp tục đóng góp 70,6% tăng trưởng GRDP với các ngành vận tải, thương mại, tài chính, giáo dục, khoa học công nghệ và thông tin truyền thông đều tăng khá. Cùng với đó, ngành xây dựng tăng gần 9%, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,8%.

Đây là nền tảng quan trọng để Hà Nội phát huy hiệu quả các cơ chế mới của Luật Thủ đô, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trở thành trung tâm điều phối phát triển của toàn vùng.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn nhiều địa phương trong vùng, nhưng với quy mô kinh tế chiếm 12,4% GDP cả nước, Thủ đô vẫn là trung tâm kinh tế lớn nhất miền Bắc và là động lực quan trọng của tăng trưởng cả nước.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trước đây, 63 tỉnh, thành là “63 nền kinh tế độc lập”, khu vực ĐBSH cũng không ngoại lệ. Sau khi sáp nhập, không gian phát triển kinh tế khu vực này có gì khác?

Điểm nổi bật của khu vực ĐBSH không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng mà còn ở cấu trúc tăng trưởng. Khác với trước, khi mỗi địa phương phát triển theo lợi thế riêng, hiện nay các trung tâm kinh tế của vùng dần hình thành chuỗi liên kết sản xuất - logistics - dịch vụ có tính bổ trợ. Hà Nội giữ vai trò trung tâm tài chính, thương mại, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hải Phòng phát huy vai trò cửa ngõ xuất nhập khẩu lớn nhất miền Bắc với hệ thống cảng biển, logistics và công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn. Quảng Ninh chuyển mạnh sang công nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển và dịch vụ. Bắc Ninh tiếp tục là trung tâm điện tử lớn nhất cả nước. Hưng Yên nổi lên như một trung tâm công nghiệp hỗ trợ, logistics và sản xuất công nghệ cao. Ninh Bình là trung tâm sản xuất điện tử mới của vùng, đồng thời phát triển mạnh du lịch chất lượng cao.

Sự phân công và liên kết này đang hình thành một cực tăng trưởng công nghiệp - logistics - đổi mới sáng tạo phía Bắc, phù hợp với định hướng phát triển vùng ĐBSH đến năm 2030 theo Nghị quyết số 30-NQ/TW và định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Đâu là động lực dẫn dắt nền kinh tế khu vực ĐBSH, thưa ông?

Động lực tăng trưởng lớn nhất của ĐBSH tiếp tục đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng đã có sự thay đổi rõ rệt. Tại Quảng Ninh, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng tới 29,5%, trong đó sản xuất điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 80,3% nhờ nhiều dự án FDI công nghệ cao đi vào hoạt động; sản xuất ô tô và linh kiện tăng 83,8%, đóng tàu tăng hơn 128%.

Tại Ninh Bình, 6 tháng đầu năm nay, ngành điện tử tăng 43,8% nhờ các dự án công nghệ cao đi vào vận hành; đồng thời ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng hơn 17% nhờ các dây chuyền xi măng, clinker mới. Bắc Ninh tiếp tục khẳng định vị thế trung tâm điện tử lớn nhất cả nước khi ngành điện tử, chiếm khoảng 40% GRDP, duy trì mức tăng cao với sản lượng máy tính xách tay tăng khoảng 1,5 lần cùng việc mở rộng sản xuất của nhiều doanh nghiệp điện tử và thiết bị thông minh. Hải Phòng duy trì đà tăng mạnh của công nghiệp với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,8%, trong đó sản xuất kim loại tăng 23,9%, điện tử tăng 17,7% và sản xuất ô tô tăng trên 16%. Trong khi đó, Hưng Yên tiếp tục nổi lên như một trung tâm công nghiệp hỗ trợ mới khi khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,26%, nhiều doanh nghiệp công nghệ cao như Molex Việt Nam, Pioneer Aluminium và Lockwe Việt Nam mở rộng quy mô sản xuất.

Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ông đánh giá như nào về khả năng thu hút FDI của các địa phương?

Nửa đầu năm 2026, Hà Nội dẫn đầu cả nước về thu hút FDI đăng ký với khoảng 3,3 tỷ USD, tiếp đến là Bắc Ninh 2,5 tỷ USD, Hải Phòng 1,8 tỷ USD, Ninh Bình 1,2 tỷ USD, Hưng Yên 688 triệu USD... Nhiều dự án FDI quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, ô tô, thiết bị điện, vật liệu mới và công nghệ cao đã đi vào hoạt động hoặc mở rộng sản xuất, trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng GRDP của các địa phương.

Logistics đang trở thành lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút vốn FDI theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW. Tại Hải Phòng, doanh thu vận tải và kho bãi tăng trên 18%, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 96 triệu tấn, tăng 11,4%, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 25,9 tỷ USD. Quảng Ninh ghi nhận doanh thu vận tải, kho bãi tăng 17,95%, bán buôn, bán lẻ tăng 16,32%, đồng thời đẩy nhanh nhiều dự án động lực như Hạ Long Xanh, Aeon Mall Hạ Long, Khu dịch vụ du lịch phức hợp cao cấp Vân Đồn. Hà Nội tiếp tục mở rộng đầu tư hạ tầng với các dự án Vành đai 4, đường sắt đô thị, hạ tầng số. Bắc Ninh triển khai tuyến kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình. Hưng Yên phát triển mạnh các khu công nghiệp và trung tâm logistics mới…

Với tốc độ hoàn thiện hạ tầng hiện nay, các địa phương có mạng lưới logistics thống nhất, kết nối cảng biển, sân bay, trung tâm tiêu dùng và các khu công nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI, cùng phát triển.

Với khu vực ĐBSH, kết quả GRDP 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, đây không chỉ là vùng có tốc độ tăng trưởng cao nhất (xem bảng) mà còn đang hình thành một mô hình phát triển mới, có sự kết hợp của 3 động lực: công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao; logistics và hạ tầng kết nối; đổi mới sáng tạo và dịch vụ hiện đại. Nếu tiếp tục duy trì được đà phát triển này, ĐBSH sẽ từng bước trở thành "cực tăng trưởng công nghiệp - logistics - đổi mới sáng tạo phía Bắc", đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030.

Kết nối đầu tư