Bài toán hình thành tổng thầu cho dự án hạ tầng quy mô lớn: Từ gỡ nút thắt cơ chế đến trao quyền xứng tầm

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Việt Nam đang đồng thời triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn, đặt ra nhu cầu về những tổng thầu đủ năng lực tổ chức, điều phối và chịu trách nhiệm xuyên suốt. Tuy nhiên, việc hình thành các tổng thầu mạnh không chỉ phụ thuộc vào năng lực doanh nghiệp, mà còn liên quan đến phương thức tổ chức dự án, cơ chế phân bổ quyền hạn - trách nhiệm và cách thức quản lý khi chuyển sang các mô hình tổng thầu như EC, EPC.

Cần sàng lọc doanh nghiệp có năng lực thực chất để giao quyền làm tổng thầu ở những dự án lớn Ảnh: ĐC
Cần sàng lọc doanh nghiệp có năng lực thực chất để giao quyền làm tổng thầu ở những dự án lớn Ảnh: ĐC

Cần những “nhạc trưởng” cho các đại dự án

Theo tính toán của Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải, nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng giao thông đến năm 2030 khoảng 2.069 nghìn tỷ đồng, chưa bao gồm chi phí bảo trì. Quy mô đầu tư lớn đặt ra yêu cầu tương ứng về năng lực tổ chức thực hiện. Các dự án hạ tầng phức tạp không chỉ cần nhà thầu thi công tốt từng hạng mục, mà cần một đầu mối đủ năng lực tích hợp thiết kế, mua sắm, thi công, điều phối nguồn lực, kiểm soát đường găng tiến độ, chất lượng, chi phí và rủi ro.

Trong những năm qua, năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã có bước tiến đáng kể. Các doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ, cải tiến công nghệ đào hầm xuyên núi NATM, thi công cầu dây văng khẩu độ lớn, tổ chức thi công cao tốc quy mô lớn và tiếp cận công nghệ mới phục vụ đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao. Tuy nhiên, năng lực thi công chỉ là một cấu phần của năng lực tổng thầu. Để đảm nhận vai trò tổ chức toàn bộ dự án, doanh nghiệp còn phải tích lũy năng lực quản trị, tài chính, pháp lý và hợp đồng, công nghệ, quản lý thiết kế, chuỗi cung ứng và điều phối nhiều nhà thầu.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng: “Năng lực tổng thầu không thể hình thành trong thời gian ngắn mà phải được tích lũy qua từng dự án. Cơ chế cần sàng lọc doanh nghiệp có năng lực thực chất để giao quyền, đồng thời tạo điều kiện để họ từng bước đảm nhận trách nhiệm lớn hơn qua thực tiễn”.

Từ thực tiễn của các nhà thầu, Chủ tịch Hiệp hội Các Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC) Nguyễn Quốc Hiệp cũng kiến nghị nghiên cứu mở rộng phương thức giao nhận thầu, hoàn thiện cơ chế về tổng thầu, tổ chức gói thầu phù hợp với năng lực doanh nghiệp và phân định rõ trách nhiệm, rủi ro giữa các bên. Qua đó, nhà thầu trong nước có điều kiện nâng cao năng lực tổ chức, quản trị và đảm nhận vai trò lớn hơn tại các dự án.

Từ quản lý nhiều gói thầu đến quản lý một đầu mối

Theo các chuyên gia, một trong những điều kiện để hình thành các tổng thầu mạnh là thay đổi phương thức tổ chức và quản lý dự án. Thay vì chia nhỏ công việc, phân tán quyền hạn và trách nhiệm qua nhiều hợp đồng, các mô hình EC, EPC tập trung quyền tổ chức thực hiện vào một đầu mối, đồng thời xác lập rõ trách nhiệm của tổng thầu đối với kết quả dự án.

Đại diện Cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Xây dựng) nhìn nhận việc hợp nhất các gói thầu nhỏ lẻ thành các gói thầu quy mô lớn, giao cho một tổng thầu quản trị là xu hướng mới, cần thiết nghiên cứu nhằm đồng bộ hóa kỹ thuật và đẩy nhanh tiến độ các đại dự án. Theo đó, việc chuyển sang mô hình tổng thầu đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới đối với chính cơ quan quản lý và các Ban QLDA. “Chuyển sang mô hình tổng thầu đòi hỏi cơ quan quản lý và các ban QLDA phải mạnh dạn định hình lại ranh giới thẩm quyền. Thay vì trực tiếp phân giao từng hạng mục nhỏ hay tham gia vào việc lựa chọn thầu phụ, chủ đầu tư phải nâng tầm vai trò thành nhà quản trị vĩ mô, thiết lập các mốc kiểm soát”, đại diện Cục Đường bộ nêu quan điểm.

Theo cách tiếp cận này, vai trò quản lý của chủ đầu tư không giảm đi mà thay đổi về phương thức từ trực tiếp xử lý nhiều công việc tác nghiệp sang kiểm soát tổng thể dự án. Điều đó đòi hỏi nâng cao năng lực thẩm định thiết kế, đánh giá rủi ro tài chính, quản trị hợp đồng tích hợp, đồng thời tăng cường các công cụ kiểm soát hiện đại như BIM, kiểm soát đường găng tiến độ.

Đây cũng là lời giải cho bài toán đặt ra khi trao quyền điều phối lớn hơn cho tổng thầu, đó là doanh nghiệp có đủ quyền chủ động để tổ chức thực hiện, trong khi Nhà nước vẫn nắm chắc quyền kiểm soát dự án.

Đại diện Cục Đường bộ khẳng định, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp “hoàn toàn không đồng nghĩa với việc Nhà nước nới lỏng quản lý”. Doanh nghiệp muốn được lựa chọn tại những dự án quy mô quốc gia phải chứng minh năng lực thực chất về kỹ thuật, quản trị chuỗi cung ứng, tài chính, pháp lý, ứng dụng công nghệ, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

PGS.TS Dương Đăng Huệ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế (Bộ Tư pháp) cho biết, pháp luật hiện hành đã có các quy định về nhà thầu chính, nhà thầu phụ, liên danh nhà thầu và tổng thầu EPC. Tuy nhiên, đối với những mô hình mà tổng thầu đảm nhận sâu hơn chức năng tổ chức, điều phối và quản trị dự án, các vấn đề về địa vị pháp lý, phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát cần tiếp tục được làm rõ. “Việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ và phân bổ rủi ro là cơ sở quan trọng để chủ đầu tư và tổng thầu thực hiện đúng trách nhiệm của mình”, ông Huệ nhấn mạnh.

Từ góc độ cơ quan quản lý, đại diện Cục Đường bộ cho rằng cần “chuyển dịch dứt khoát từ tư duy ‘quản lý sự vụ, làm thay doanh nghiệp’ sang phương thức quản trị bằng thể chế”. Theo đó, Nhà nước thiết lập hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, dùng hợp đồng làm công cụ ràng buộc, lấy tiến độ - chất lượng - giá thành làm mục tiêu và dùng các chế tài để bảo đảm thực hiện. Đây là cơ chế vừa sàng lọc đúng doanh nghiệp, vừa trao quyền tương xứng với năng lực và tạo điều kiện để nhà thầu trưởng thành qua thực tiễn, cũng là nền tảng để hình thành các tổng thầu Việt Nam đủ sức tổ chức thực hiện những dự án hạ tầng lớn, phức tạp, từng bước đảm nhận vai trò chủ lực trong phát triển hạ tầng đất nước.

Kết nối đầu tư