|
| Việc tăng sản lượng khai thác mỏ hợp pháp trong thời gian ngắn là yếu tố căn bản để bảo đảm tiến độ thi công các công trình, dự án đang triển khai tại địa phương. Ảnh: Gia Khoa |
Theo quan sát, một số địa phương như Lai Châu, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa… đã vào cuộc giải bài toán vật liệu, nhưng thực tế lại phát sinh những băn khoăn, lúng túng trong triển khai.
Giải phóng nguồn vật liệu bằng cơ chế linh hoạt
Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 21/9/2025 về các cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 có hiệu lực đến ngày 28/2/2027 đang tạo “khoảng đệm” pháp lý, bổ sung các cơ chế linh hoạt để tháo gỡ khó khăn cấp bách cho các địa phương để bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên.
Tại Lai Châu, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết, triển khai Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP, Sở đã tham mưu UBND Tỉnh ban hành công văn theo hướng tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính: đối với các khu vực mỏ chưa cấp phép, chủ dự án hoặc nhà thầu thi công có thể tự xác định vị trí khoáng sản nhóm IV (vật liệu san lấp) và lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác theo trình tự rút gọn. Đặc biệt, kết quả khảo sát, đánh giá thông tin chung không cần Sở NN&MT xác nhận, giúp tiết kiệm tối đa thời gian. Đối với các mỏ đã hết hạn khai thác nhưng còn trữ lượng, hướng dẫn chủ dự án phối hợp với chủ mỏ cũ để đề nghị UBND Tỉnh cho phép tiếp tục khai thác, phục vụ riêng cho các dự án đặc thù này. Giải pháp quan trọng nhất là, đối với các mỏ đang hoạt động, đề xuất cho phép các chủ mỏ được lập hồ sơ điều chỉnh nâng công suất khai thác. Với việc không thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư và không cần điều chỉnh, thẩm định lại báo cáo đánh giá tác động môi trường hay giấy phép môi trường, công suất khai thác có thể nâng không hạn chế đối với khoáng sản nhóm IV và nhóm III (trừ cát, sỏi lòng sông).
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 21 điểm mỏ khoáng sản được cấp phép khai thác vật liệu xây dựng (trong đó khai thác đá có 18 điểm, khai thác cát có 3 điểm) và 8 điểm mỏ khai thác khoáng sản đã hết hạn, đang làm các thủ tục cần thiết cấp phép khai thác trở lại. Nhiều ý kiến kỳ vọng, nếu được triển khai trong thực tế, cơ chế nêu trên sẽ giúp các đơn vị khai thác tăng sản lượng hợp pháp trong thời gian ngắn, đáp ứng ngay nhu cầu vật liệu cho các công trình, dự án, là yếu tố căn bản để bảo đảm tiến độ thi công các công trình, dự án đang triển khai tại địa phương.
Bắc Ninh đang triển khai hàng loạt công trình giao thông trọng điểm, có những công trình đang trong giai đoạn tăng tốc thi công, nhưng nguồn cung vật liệu xây dựng, nhất là đất san lấp mặt bằng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Theo Sở NN&MT Bắc Ninh, toàn tỉnh hiện có 38 mỏ đã cấp phép khai thác còn hiệu lực với tổng trữ lượng hơn 50 triệu m3, công suất khai thác hơn 10,2 triệu m3/năm. Trong đó, mới có 20 mỏ đang hoạt động với tổng trữ lượng hơn 17 triệu m3, nhiều mỏ hoạt động cầm chừng, số mỏ còn lại chưa khai thác do chưa thuê được đất. Trong khi đó, nhiều công trình đang thi công nền đường đang đồng thời triển khai, cần khối lượng đất san lấp rất lớn, nhưng nguồn cung hiện tại mới chỉ đáp ứng được 30 - 50%.
Xác định việc bảo đảm nguồn cung vật liệu, đặc biệt là đất san lấp là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, UBND Tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản (nhóm III, nhóm IV) trên địa bàn. Cụ thể, Bắc Ninh phê duyệt 44 khu vực khoáng sản vào khu vực không đấu giá quyền khai thác, nhằm cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án, nhiệm vụ trên địa bàn theo Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP.
Tại Thanh Hóa, báo cáo của Sở NN&MT cho biết, với nhóm mỏ đất làm vật liệu san lấp, UBND tỉnh đã phê duyệt 10 khu vực mỏ đưa vào diện không đấu giá quyền khai thác khoáng sản phục vụ các công trình đầu tư công theo cơ chế đặc thù của Nghị quyết 66.4. Đến nay, 1 mỏ đất tại xã Yên Thọ đã được cấp phép khai thác; 2 mỏ tại xã Trường Lâm và xã Các Sơn đang hoàn tất hồ sơ để cấp phép trong tháng 1/2026. Song song với đó, Sở tiếp tục rà soát các mỏ đất khác đủ điều kiện để trình UBND Tỉnh cho phép áp dụng cơ chế không đấu giá.
Không chỉ tập trung cho đầu tư công, tỉnh Thanh Hóa còn mở rộng áp dụng cơ chế đặc thù cho các dự án đầu tư trực tiếp. Cụ thể, UBND Tỉnh ban hành 2 quyết định phê duyệt danh mục 55 dự án vốn ngoài ngân sách được áp dụng Nghị quyết 66.4. Sở NN&MT đang hướng dẫn các nhà đầu tư khảo sát, đề xuất mỏ phục vụ dự án. Đến nay, đã có 14 chủ đầu tư với 16 đề xuất mỏ tiến hành kiểm tra thực địa và đang hoàn tất các bước thẩm định để đi vào khai thác.
Băn khoăn về tiêu chí cụ thể áp dụng cơ chế đặc thù
Cũng triển khai Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP, nhưng mới đây, UBND tỉnh Khánh Hòa có báo cáo gửi Bộ TN&MT nêu những khó khăn bộc lộ trong thực tế triển khai. Báo cáo cho biết, theo Nghị quyết 66.4, các dự án đầu tư công, dự án PPP, công trình trọng điểm và dự án phát triển kinh tế - xã hội do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định sẽ được áp dụng cơ chế đặc thù về mỏ vật liệu. Nghị quyết cho phép thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm III và IV không phải thực hiện nhiều thủ tục như phê duyệt dự án đầu tư hay chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng việc thiếu tiêu chí xác định loại dự án đang gây ra nhiều lúng túng khi triển khai.
Cụ thể, Khánh Hòa chỉ ra sự lúng túng trong việc phân biệt giữa dự án đầu tư công thông thường và các dự án phát triển kinh tế - xã hội được Chủ tịch UBND tỉnh chấp thuận áp dụng cơ chế đặc thù. Hiện đang tồn tại quan điểm trái chiều về việc liệu tất cả các công trình tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 66.4 đều được áp dụng cơ chế đặc thù, hay chỉ dành cho các dự án có nhu cầu vật liệu lớn, thời gian thi công ngắn và ở xa các mỏ đã cấp phép? Việc không có tiêu chí để đánh giá, đề xuất dễ dẫn đến tình trạng khiếu nại giữa các chủ dự án, khiến địa phương thiếu cơ sở pháp lý để ban hành văn bản chấp thuận.
Bên cạnh đó, các quy định về môi trường và quy hoạch cũng bộc lộ một số điểm chưa thông suốt. Theo UBND tỉnh Khánh Hòa, Nghị quyết cho phép bỏ qua thủ tục thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhưng nếu đơn vị khai thác không lập hồ sơ này sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý, kiểm tra vi phạm và thiếu cơ sở thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ sau khai thác.
Đặc biệt, quy định yêu cầu khu vực khoáng sản phục vụ dự án phải được khoanh định vào khu vực không đấu giá, làm tăng thêm một bước thủ tục hành chính, mâu thuẫn với mục tiêu đơn giản hóa khi mà các bước như phù hợp quy hoạch hay kế hoạch sử dụng đất đã được lược bỏ.
Tỉnh Khánh Hòa cũng nêu vướng mắc về việc nâng công suất khai thác. Nghị quyết cho phép nâng công suất khoáng sản nhóm III, nhóm IV theo nhu cầu dự án mà không cần điều chỉnh chủ trương đầu tư hay hồ sơ môi trường, nhưng lại không làm rõ việc có phải lập lại hồ sơ thiết kế khai thác hay không. Khánh Hòa bày tỏ lo ngại, nếu doanh nghiệp phải lập hồ sơ điều chỉnh thiết kế khi tăng công suất, thì khi quay về công suất ban đầu sẽ phải thực hiện lại, phát sinh thủ tục hành chính không đáng có.