|
| Chính phủ xác định mục tiêu trong 5 năm tới, tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, hệ số ICOR giảm xuống 4,5 - 4,8, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP. Ảnh: Lê Tiên |
Nóng nghị trường việc ICOR
Trong hơn một ngày Quốc hội thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, đại biểu Quốc hội rất quan tâm đến vấn đề làm sao kéo giảm hệ số ICOR, để đầu tư công thực sự đóng vai trò dẫn dắt trong đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng.
Theo đại biểu Phan Duy Anh (Đoàn Đà Nẵng), báo cáo của Chính phủ đã xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong 5 năm tới cùng với hệ số ICOR giảm mạnh xuống còn 4,5 - 4,8, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP. Đây là những chỉ tiêu rất tham vọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao.
Tuy nhiên, đại biểu Phan Duy Anh cho rằng, để bảo đảm tính khả thi của bộ tiêu chí này thì nhiều vấn đề cần được làm rõ. Hệ số ICOR giai đoạn 2016 - 2020 là 6,77; giai đoạn 2021 - 2025 là 6,43. Sau 5 năm, hệ số ICOR chỉ giảm được 0,34 điểm, trong khi đó mục tiêu giai đoạn 2026 -2030 là 4,5 - 4,8, tức là phải giảm tới 1,6 - 1,9 điểm - mức giảm chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua. Nếu không có những giải pháp mang tính đột phá, giải quyết căn cơ những tồn đọng kéo dài như tình trạng dàn trải trong phân bổ vốn, chất lượng chuẩn bị dự án chưa cao, giải phóng mặt bằng chậm trễ, khả năng cung ứng vật liệu xây dựng hạn chế thì mục tiêu này khó đạt được.
Đại biểu Phan Duy Anh đề nghị Chính phủ cụ thể hóa bằng một lộ trình rõ ràng, chỉ rõ từng yếu tố đóng góp vào việc giảm chỉ số ICOR, đâu là phần do năng suất lao động, đâu là phần do ứng dụng khoa học công nghệ, đâu là phần do cơ cấu lại đầu tư công theo hướng tập trung, tránh dàn trải…
Theo đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn Gia Lai), ICOR cao do 3 nguyên nhân. Đó là đầu tư dàn trải, nhiều dự án chưa phát huy hiệu quả, thời gian thực hiện kéo dài, chi phí tăng; chuẩn bị đầu tư yếu, xem nhẹ đánh giá hiệu quả trước và sau dự án, chi phí phi chính thức cao; vốn ứ đọng, phân bổ không kịp thời. “ICOR cao không phải vì thiếu vốn mà vì thừa dự án, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm giải trình. Bỏ thêm tiền vào hệ thống quản trị kém chỉ làm ICOR tăng thêm”, đại biểu Lê Hoàng Anh nhận định.
Để giảm ICOR, đại biểu Lê Hoàng Anh kiến nghị Chính phủ thực hiện ngay 3 giải pháp. Thứ nhất, cắt giảm ít nhất 30% số dự án đầu tư và việc cắt giảm phải đi kèm nguyên tắc cắt đúng dự án kém hiệu quả, giữ lại dự án lan tỏa cao. Thứ hai, ban hành hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội. Việc hạch toán phải phù hợp với bản chất từng loại dự án chứ không thể dùng chung một bộ tiêu chí, nhằm tránh tạo ra nút thắt mới. Việc đánh giá không chỉ với báo cáo tiền khả thi mà bắt buộc sau 3 năm hoàn thành, dự án phải được đánh giá lại kết quả thực hiện so với cam kết ban đầu và đây phải là nghĩa vụ pháp lý. Kết quả dự án cần công khai, ràng buộc trách nhiệm. Thứ ba, số hóa toàn bộ vòng đời đồng vốn đầu tư công, thông qua thiết lập bảng điều khiển số giúp theo dõi sát tiến độ giải ngân theo thời gian thực, liên thông trách nhiệm từng khâu giữa chủ đầu tư, kho bạc và kiểm toán.
Từ góc nhìn khác, đại biểu Nguyễn Như So (Đoàn Bắc Ninh) cho rằng, cần tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp các động lực tăng trưởng khi mà động lực về công nghệ, năng suất chưa thể bứt phá. Theo ông Nguyễn Như So, hệ thống tài chính đang đối mặt với một nghịch lý kép khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 146% trong khi nền kinh tế thiếu vốn trung và dài hạn. Nguyên nhân cốt lõi là sự lệch pha khi phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng để tài trợ cho các nhu cầu dài hạn. Việc “lấy ngắn nuôi dài” không chỉ tạo áp lực cho thanh khoản mà còn khiến dòng vốn không chảy vào khu vực tạo giá trị gia tăng cao. Đây là căn nguyên làm cho hệ số ICOR của Việt Nam duy trì ở mức cao từ 6 - 7, khiến chúng ta phải bỏ ra nhiều vốn hơn để đạt được cùng một mức tăng trưởng.
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Như So đề xuất cần cấp thiết tái cấu trúc lại cơ chế phân bố vốn, ưu tiên cho những lĩnh vực có giá trị thực; giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng của ngân hàng bằng cách phát triển thực chất các thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp để hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn đúng nghĩa… Chính sách tín dụng cần được gắn với tiêu chuẩn chất lượng, hiệu quả đầu tư và các chuẩn mực phát triển bền vững, kết nối hiệu quả đầu tư công, đầu tư tư nhân để vốn đầu tư công thực sự phát huy vai trò vốn mồi, dẫn dắt vốn toàn xã hội.
Nhiều đại biểu Quốc hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả đầu tư, mỗi đồng vốn đầu tư phải chứng minh được ý nghĩa của nó; tháo gỡ các nút thắt đang cản trở giải ngân đầu tư công bằng các giải pháp đột phá, quyết liệt hơn; rà soát, đánh giá kỹ nguyên nhân hệ số ICOR ở mức cao nhiều năm và có giải pháp khắc phục...
Giảm ICOR là vấn đề bắt buộc
Phản hồi quan tâm của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng, cải thiện hiệu quả đầu tư, làm sao để giảm ICOR xuống là vấn đề bắt buộc. Nếu không cải thiện được hệ số ICOR thì để tăng trưởng hai con số, tổng đầu tư toàn xã hội phải lên tới 70% GDP. Vì vậy, phải đặt mục tiêu đưa ICOR về mức từ 4 đến 4,5, dù mức này vẫn còn rất cao nếu đem so sánh với cùng thời kỳ tăng tốc từ mức GDP 5.000 USD/người lên trên 10.000 USD/người của các quốc gia châu Á khác như Trung Quốc (đạt 2,7), Nhật Bản (đạt 3,2) hay Hàn Quốc (đạt 3). Để hạ thấp hệ số ICOR, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhất trí cao với các đề xuất của đại biểu Quốc hội về việc thắt chặt từ khâu chuẩn bị đầu tư, lựa chọn danh mục, bố trí vốn tập trung, tăng cường kiểm tra giám sát suốt vòng đời dự án...
Về vấn đề giải ngân đầu tư công, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Bộ Tài chính đã và đang quyết liệt triển khai các nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ phân công. Trong tuần này, Thủ tướng sẽ chủ trì Hội nghị toàn quốc về bảo đảm giải ngân vốn đầu tư công đạt được tiến độ cho năm 2026. Sắp tới, Thủ tướng sẽ chủ trì hội nghị toàn quốc về giải ngân vốn đầu tư công, rà soát lại toàn bộ những vấn đề liên quan đến thực hiện giải ngân từ thủ tục đầu tư, chuẩn bị đầu tư, đấu thầu, giải phóng mặt bằng, tiêu chuẩn định mức, giá, vật liệu xây dựng, quy trình thanh quyết toán, bảo hành duy tu, các luật liên quan…, làm sao cho thời gian chuẩn bị ngắn nhất, mục đích chọn đúng, chọn trúng dự án có hiệu quả, triển khai trong thời gian ngắn, nhanh chóng đưa vào hoạt động, phát huy hiệu quả.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng tập trung giải quyết những dự án tồn đọng để giải phóng nguồn lực lớn đang ách tắc, khơi thông các kênh huy động vốn để đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển…