(BĐT) - Hiện tại vẫn còn một số lượng lớn dự án BT bị kéo dài nhiều năm mà chưa ký kết được hợp đồng hoặc đã ký kết hợp đồng nhưng chưa được thanh toán. Trường hợp các vướng mắc không được xử lý dứt điểm sẽ tạo ra hệ lụy pháp lý và kinh tế rất lớn, không chỉ đối với các nhà đầu tư, các ngân hàng đã cấp vốn, chính quyền các địa phương và cả người dân, cộng đồng khu vực có dự án.
Nhiều nhà đầu tư đã hoàn thành xây dựng công trình BT, nhưng vẫn chưa được bố trí quỹ đất thanh toán để thực hiện dự án hoàn vốn. Ảnh: Lê Tiên

Nhiều nhà đầu tư đã hoàn thành xây dựng công trình BT, nhưng vẫn chưa được bố trí quỹ đất thanh toán để thực hiện dự án hoàn vốn. Ảnh: Lê Tiên

Vướng chuyển tiếp, nhà đầu tư điêu đứng

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), sau khi Nghị định số 69/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ KH&ĐT nhận được nhiều phản ánh của các địa phương, doanh nghiệp về một số vướng mắc, chủ yếu là vấn đề chuyển tiếp và hình thức lựa chọn nhà đầu tư.

Cụ thể, Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 69/2019/NĐ-CP quy định chuyển tiếp cho các trường hợp dự án BT đã ký kết hợp đồng trước ngày 1/1/2018 nhưng chưa hoàn thành việc thanh toán. Theo quy định này, trường hợp các nội dung liên quan đến việc thanh toán chưa được quy định rõ trong hợp đồng BT thì áp dụng các quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và pháp luật có liên quan có hiệu lực tại thời điểm thanh toán.

Tuy nhiên, theo một số nhà đầu tư, trên thực tế có nhiều hợp đồng BT được ký kết trước thời điểm có hiệu lực thi hành của các luật trên. Việc thực hiện thanh toán lại căn cứ “pháp luật có liên quan có hiệu lực tại thời điểm thanh toán” là khó khả thi do quy định từ thời điểm các hợp đồng được ký kết đến thời điểm thanh toán đã được điều chỉnh rất nhiều lần.

Điều 17 số 69/2019/NĐ-CP cũng quy định chỉ chuyển tiếp cho các dự án BT đã có hợp đồng được ký kết. Tuy nhiên, thực tế có nhiều dự án đang triển khai giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư hoặc đang đàm phán và ký kết hợp đồng.

Rất nhiều nhà đầu tư chia sẻ với Báo Đấu thầu rằng họ dốc hết vốn liếng, thậm chí đã hoàn thành xây dựng công trình BT, gánh lãi nhiều năm, đến nay vẫn chưa được bố trí quỹ đất thanh toán để thực hiện dự án hoàn vốn. Nguy cơ vỡ nợ, phá sản là rõ ràng, cùng với đó là niềm tin với môi trường đầu tư bị sụt giảm.

Cơ hội cuối cùng để gỡ vướng cho dự án BT

Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng mới đây đã tổ chức cuộc họp và cho ý kiến chỉ đạo Bộ Tài chính và Bộ KH&ĐT có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ các vướng mắc của Nghị định số 69/2019/NĐ-CP. Đồng thời, Luật PPP (Điều 101, Khoản 7) đã giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết các trường hợp chuyển tiếp (trong đó có dự án BT).

Theo Bộ KH&ĐT, để thực hiện yêu cầu tại Luật PPP và chỉ đạo nêu trên của Lãnh đạo Chính phủ, cần sớm có quy định tháo gỡ tại cấp Nghị định. Dự án BT mới chấm dứt thực hiện kể từ ngày 1/1/2021, việc thực hiện quy trình sửa đổi Nghị định số 69/2019/NĐ-CP là không khả thi về mặt thời gian; đồng thời đây là cơ hội cuối cùng của Chính phủ trong việc quyết tâm tháo gỡ các vướng mắc của dự án BT.

Tại Tờ trình ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật PPP, Bộ KH&ĐT đã báo cáo Chính phủ xem xét, cho phép sửa đổi một số nội dung của Nghị định số 69/2019/NĐ-CP tại Nghị định hướng dẫn Luật PPP. Trong đó, Bộ KH&ĐT đề xuất sửa đổi Khoản 1 Điều 17, thay thế cụm từ “tại thời điểm thanh toán” bằng “tại thời điểm ký kết hợp đồng”.

Bên cạnh đó, Luật PPP cho phép các dự án BT đã phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được tiếp tục thực hiện căn cứ vào hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và quy định của pháp luật tại thời điểm phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Do vậy, để các dự án này đủ cơ sở để thực hiện việc thanh toán, Bộ KH&ĐT đề xuất bổ sung Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 69/2019/NĐ-CP như sau: “Việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho dự án BT đã phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc đã có kết quả lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đấu thầu và đủ điều kiện chuyển tiếp theo quy định của Luật PPP được thực hiện theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và pháp luật có liên quan”.

Bộ KH&ĐT cũng đề xuất sửa đổi Điểm b Khoản 1 Điều 3; bỏ Khoản 3 Điều 1 và Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 69/2019/NĐ-CP.