Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo nhiều việc làm giá trị cao

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Trả lời phỏng vấn Báo Đấu thầu, ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam khuyến nghị, để tăng trưởng tích cực trong năm 2026 và dài hạn, bên cạnh nỗ lực đảm bảo ổn định vĩ mô như một điều kiện tiên quyết, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào lao động và các nguồn lực giá rẻ sang mô hình tăng trưởng được thúc đẩy bởi năng suất, công nghệ và đổi mới, đồng thời cần tạo ra nhiều việc làm có giá trị cao.

Những cải cách về khoa học công nghệ cần được thực hiện nhanh và hiệu quả hơn. Ảnh: Tuấn Anh
Những cải cách về khoa học công nghệ cần được thực hiện nhanh và hiệu quả hơn. Ảnh: Tuấn Anh

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nền kinh tế Việt Nam về đích năm 2025 với nhiều mục tiêu đạt và vượt kế hoạch. Ông nhìn nhận như thế nào về diễn tiến kinh tế Việt Nam năm 2025 và các rủi ro phía trước?

Bất chấp những thách thức toàn cầu ngày càng tăng, Việt Nam đã đạt được kết quả tăng trưởng kinh tế năm 2025 trong nhóm cao nhất khu vực. Kết quả tăng trưởng được thúc đẩy bởi gia tăng thương mại mạnh mẽ và sản xuất hướng tới xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bền vững, giải ngân đầu tư công tăng nhanh và lượng khách du lịch nước ngoài tăng mạnh.

Tăng trưởng thương mại được thúc đẩy bởi gia tăng đơn hàng trước khi Chính phủ Hoa Kỳ tăng thuế quan. Xuất khẩu tăng 16,1% đạt giá trị 430 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm. Nhập khẩu tăng 18,4%, đạt 410 tỷ USD. Thặng dư thương mại ở mức 20,5 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp tăng 9,9%, cao hơn nhiều so với mức trung bình dài hạn, nhờ các đơn đặt hàng và sản lượng đều tăng.

Việc triển khai đầu tư được đẩy nhanh đáng kể. Dòng vốn FDI thu hút vẫn tăng, với 33,7 tỷ USD đăng ký (tăng 7,4%) và 23,6 tỷ USD được giải ngân (tăng 8,9%) trong 11 tháng đầu năm. Đầu tư công cũng tăng mạnh, củng cố đà tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng tăng tốc, dự kiến sẽ đạt 18% vào cuối năm, so với 9,1% một năm trước đó.

Trong khi đó, ngành dịch vụ hưởng lợi từ du khách nước ngoài tăng mạnh nhờ các biện pháp miễn thị thực, quảng bá tích cực và lễ hội. Lượng khách quốc tế tăng hơn 20%, trong đó khách châu Âu tăng 37,8% và khách châu Á tăng 19,7%.

Mặc dù tăng trưởng kinh tế năm 2025 của Việt Nam nằm trong số những nước có mức tăng trưởng cao nhất khu vực, nhưng bước sang năm 2026, vẫn còn nhiều rủi ro ở phía trước. Nhu cầu xuất khẩu có thể suy yếu sau khi thuế quan của Chính phủ Hoa Kỳ có hiệu lực đầy đủ, có khả năng làm giảm thu hút FDI. Việt Nam cần thúc đẩy nhu cầu trong nước thông qua các chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng để bù đắp suy giảm cầu từ bên ngoài.

Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số để tạo đà cho sự bứt phá của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030. Về phía ADB, xin ông chia sẻ dự báo và những khuyến nghị cho Việt Nam để tăng trưởng cao và bền vững?

Trong báo cáo công bố trong trung tuần tháng 12/2025, ADB dự báo, tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 6,4% trong năm 2026, bất chấp bất ổn toàn cầu đang gia tăng. Nhu cầu trong nước ổn định, đầu tư công tiếp tục tăng đều, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sản xuất công nghiệp dựa vào xuất khẩu được duy trì là những yếu tố tạo nên tăng trưởng trong năm 2026. Lạm phát được dự báo sẽ ở mức 3,8% cho thấy môi trường kinh tế vĩ mô ổn định tại Việt Nam.

Để tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần dựa vào việc mở rộng nhu cầu trong nước và tăng cường khai thác nhu cầu từ bên ngoài, thực hiện các cải cách chính sách để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Về nhu cầu trong nước, Việt Nam có thể tăng cường tiêu dùng hộ gia đình thông qua kích thích tài khóa và cải cách thị trường. Đẩy mạnh đầu tư công vào hạ tầng giao thông, kỹ thuật số và các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ có vai trò rất quan trọng. Bên cạnh đó, tăng chi tiêu cho phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khỏe và phát triển kỹ năng của người lao động sẽ góp phần nâng cao thu nhập và tăng cường niềm tin của người tiêu dùng.

Để tăng cường khai thác nhu cầu bên ngoài, Việt Nam cần thúc đẩy và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Thu hút FDI sẽ vẫn giữ vai trò trung tâm tạo ra tăng trưởng nhờ thúc đẩy năng lực sản xuất, tăng cường khả năng cạnh tranh và hội nhập của kinh tế Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

0000.jpg
Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam

Bên cạnh đẩy mạnh đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, những năm gần đây Việt Nam thực hiện nhiều cải cách về môi trường kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ông có lời khuyên gì cho Việt Nam trong nỗ lực này?

Theo chúng tôi, Việt Nam cần đẩy nhanh và thực thi hiệu quả hơn các cải cách đang diễn ra để cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, nâng cao năng suất và thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi kỹ thuật số và xanh, qua đó nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cần hợp lý hóa các khuôn khổ pháp lý và điều hành thị trường, giảm chi phí tuân thủ và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Nhận thức được đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học công nghệ là một động lực quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng, Việt Nam cần xây dựng các thị trường vận hành hiệu quả cho dịch vụ khoa học, công nghệ, nghiên cứu phát triển và khởi nghiệp để đẩy nhanh quá trình nâng cấp và áp dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và thúc đẩy một hệ sinh thái khởi nghiệp năng động. Một khung pháp lý rõ ràng, thông thoáng và sự phối hợp công - tư chặt chẽ hơn sẽ là chìa khóa để thúc đẩy thị trường khoa học công nghệ và các hoạt động đổi mới sáng tạo. Để tăng cường triển vọng phát triển ổn định và bền vững trong dài hạn, Việt Nam cần thực hiện hiệu quả hơn nữa các biện pháp khác nhau, từ kích thích tài khóa đến các cải cách cơ cấu sâu rộng - tất cả đòi hỏi nhiều nỗ lực nhất quán.

Nền kinh tế toàn cầu ngày càng biến động nhanh và khó lường, xin ông chia sẻ khuyến nghị của ADB dành cho Việt Nam để bước vững trong bối cảnh mới?

Lịch sử đã cho thấy tầm quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô trong nhiều giai đoạn phát triển nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã thành công vượt qua nhiều thách thức lớn như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 2008 và đại dịch COVID-19, đã duy trì những thành quả đạt được và khôi phục lại sự ổn định tương đối nhanh chóng ngay cả sau một vài giai đoạn lạm phát cao trong những năm 2008-2011. Những bài học này nhấn mạnh nhận thức quan trọng là ổn định vĩ mô không thể bị xem là có thể đánh đổi với các mục tiêu khác, đây là điều kiện cần cho phát triển bền vững.

Để đạt các mục tiêu trung và dài hạn, theo chúng tôi, Việt Nam cần củng cố các yếu tố nền tảng về tài khóa và tài chính với chiến lược ổn định tài khóa để cân bằng giữa các biện pháp kích thích tăng trưởng với trạng thái bền vững của tài chính công. Điều này có nghĩa là cải thiện hiệu quả thu ngân sách, tối ưu hóa chi tiêu công và quản lý rủi ro nợ công.

Trong lĩnh vực tài chính, Việt Nam cần mở rộng và làm sâu sắc hơn thị trường vốn để giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và cải thiện khả năng tiếp cận tài chính với các điều kiện cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần xây dựng dự trữ ngoại hối quy mô hơn, vì đây là yếu tố rất quan trọng để đối phó với những cú sốc từ bên ngoài. Việc nâng cao dự trữ ngoại hối phải dựa vào khả năng cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ hơn của các doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới.

Bên cạnh việc đảm bảo ổn định vĩ mô, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào lao động và các nguồn lực giá rẻ sang mô hình tăng trưởng được thúc đẩy bởi năng suất, công nghệ và đổi mới. Khi lợi ích của giai đoạn “dân số vàng” giảm dần và mức thu nhập tăng lên, Việt Nam cần tạo ra nhiều việc làm có giá trị cao, kỹ năng cao và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong sản xuất và dịch vụ.

Những cải cách gần đây về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển khu vực tư nhân là những bước đi quan trọng, đúng hướng, cần phải thực hiện hiệu quả và nhanh hơn để nâng cao hiệu quả và năng suất. Các biện pháp này sẽ cho phép khu vực tư nhân phát triển năng động, tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu và tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế. Trong bối cảnh bất ổn toàn cầu đang gia tăng, khả năng kết hợp ổn định kinh tế vĩ mô với chuyển đổi cơ cấu của Việt Nam sẽ quyết định thành công lâu dài của nền kinh tế.

Kết nối đầu tư