(BĐT) - Tỷ lệ giải ngân các dự án sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) còn thấp do nhiều vướng mắc, đáng chú ý là những trở ngại từ việc thiết kế dự án không phù hợp, chậm hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư, thủ tục đầu tư.
Tổng vốn vay World Bank đã cam kết cho 36 chương trình, dự án đang triển khai là 7.369,5 triệu USD. Ảnh minh họa: Internet

Tổng vốn vay World Bank đã cam kết cho 36 chương trình, dự án đang triển khai là 7.369,5 triệu USD. Ảnh minh họa: Internet

Tại Hội nghị trực tuyến giữa các bộ, ngành, địa phương về giải ngân năm 2020 do Bộ Tài chính phối hợp với WB tổ chức ngày 28/10, bà Nguyễn Xuân Thảo - Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, WB là nhà tài trợ lớn cho Việt Nam.

Hiện nay tổng vốn vay WB đã cam kết cho 36 chương trình, dự án đang triển khai là 7.369,5 triệu USD. Trong đó, 33 khoản vay đã ký hiệp định với số vốn vay là 6.589 triệu USD, 3 khoản vay mới đàm phán đã được phía IDA phê duyệt nhưng chưa ký hiệp định với số vốn vay là 506 triệu USD. Trong danh mục này, 8 khoản vay sẽ kết thúc giải ngân năm 2020, 10 khoản vay sẽ kết thúc giải ngân năm 2021.

Về giải ngân, theo dự toán vốn năm 2020 của phía Việt Nam (tính từ ngày 1/1 tới ngày 30/9/2020), trị giá giải ngân vốn WB (theo phương thức trực tiếp và tạm ứng vào tài khoản đặc biệt) tăng 55% so với trị giá giải ngân 9 tháng năm 2019. Còn theo cách tính của WB dựa trên năm tài khóa 2021 (tính từ ngày 1/7/2020) có 18/36 khoản vay chưa giải ngân, dẫn đến tỷ lệ giải ngân theo cách tính của WB (số giải ngân/tổng vốn vay cam kết) năm 2021 là rất thấp.

Bà Thảo cũng cho biết, tính đến 30/9/2020, có 34 dự án/tiểu dự án vay WB đề xuất trả lại kế hoạch vốn năm 2020 với tổng số kế hoạch vốn đề xuất trả lại bằng 34,6% tổng dự toán được giao của các dự án vay WB.

Theo đại diện các bộ, ngành, địa phương, nguyên nhân khiến tỷ lệ giải ngân nguồn vốn vay này còn thấp là do những vướng mắc về phía dự án. Cụ thể, một số dự án phải điều chỉnh, gia hạn dẫn đến phải sửa đổi hiệp định vay; thiết kế dự án không phù hợp, khó triển khai; chậm hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư, thủ tục đầu tư: chậm duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công, tổng dự toán; công tác di dời hạ tầng kỹ thuật chậm, công tác bồi thường tái định cư gặp khó khăn; năng lực nhà thầu hạn chế; dư vốn nhiều, phải đề xuất hủy vốn dư hoặc đề xuất mở rộng dự án để sử dụng vốn dư; việc gửi hồ sơ thẩm định, góp ý, ký hợp đồng vay lại còn chậm.

Một nguyên nhân khác cũng được các đại biểu đề cập tới trong Hội nghị đó là vướng mắc về cơ chế và quy trình thủ tục. Cụ thể, các ý kiến cho rằng, mô hình dự án ODA, khoản vay gộp chưa phù hợp với quy định của Việt Nam và chưa thực sự thuận lợi đối với các cơ quan thực hiện; mô hình giải ngân dựa trên kết quả không hoàn toàn phù hợp với quy định của Việt Nam do các địa phương không đủ nguồn vốn để hoàn thành kết quả, quy định kiểm soát thanh toán vốn NSNN của Việt Nam là căn cứ chi phí hợp lệ được KBNN xác nhận, không căn cứ kết quả đầu ra được kiểm đếm…

Trước những khó khăn, vướng mắc đó, các đại biểu tham dự Hội nghị đã đề xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy giải ngân vốn vay WB nói riêng và vốn vay nước ngoài của Chính phủ nói chung. Theo đó, đối với các cơ quan chủ quản cần tập trung thúc đẩy việc hoàn tất các nhiệm vụ đầu tư của năm 2020, khẩn trương hoàn thành các thủ tục điều chỉnh dự án; đẩy nhanh việc lập hồ sơ thanh toán, gửi KBNN để xác nhận khối lượng hoàn thành và thực hiện thanh toán từ các tài khoản đặc biệt hoặc thanh toán trực tiếp, khẩn trương báo cáo chi tiêu để hoàn ứng, giảm vốn nhàn rỗi không sử dụng. Các địa phương cũng đề nghị các bộ chủ quản các dự án ODA đẩy nhanh góp ý cho các địa phương các vấn đề báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế....

Kiến nghị đối với WB, tại Hội nghị, các bộ, ngành, địa phương bày tỏ mong muốn WB sẽ cải tiến khâu thiết kế dự án, đàm phán, ký kết hiệp định như: loại bỏ phương thức dự án ODA để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam; bám sát quy định của phía Việt Nam để tránh vướng mắc trong khâu thực hiện; thẩm định kỹ để số vốn cam kết sát với nhu cầu sử dụng, sát với đơn giá, định mức của phía Việt Nam, tránh việc dự án phải trả vốn, hủy vốn, tỷ lệ giải ngân/vốn cam kết thấp; rà soát mô hình giải ngân dựa trên kết quả để có mô hình phù hợp, quản lý vốn vay hiệu quả; nghiên cứu tạo thuận lợi cho phương thức thanh toán trực tiếp; đẩy nhanh thời gian phê duyệt các vấn đề cần xin ý kiến, nghiên cứu nâng cao hiệu quả phương thức thanh toán tài khoản đặc biệt và áp dụng phương thức thanh toán trực tiếp để giảm chi phí vay…