|
| Việc quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trùng với cách thức quyết toán thuế tài nguyên khoáng sản, nhưng lại do 2 cơ quan khác nhau thực hiện. Ảnh: Nhã Chi |
Chồng chéo quy trình, nhiều bất cập trong thực tiễn
Theo quy định pháp luật về địa chất và khoáng sản, chính sách TCQKTKS được thực hiện theo trình tự: Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) xác định, quyết toán TCQKTKS đối với giấy phép khai thác khoáng sản nhóm I, nhóm II, nhóm III, nhóm IV, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản trên địa bàn tỉnh, thành phố để trình chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt, phê duyệt điều chỉnh, phê duyệt lại TCQKTKS.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã trình chủ tịch UBND cấp xã phê duyệt, phê duyệt điều chỉnh, phê duyệt lại, quyết toán TCQKTKS đối với giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp của chủ tịch UBND cấp xã.
Một số ý kiến cho rằng, doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản phải nộp tiền cấp quyền lần đầu và quyết toán tiền cấp quyền định kỳ 5 năm một lần hoặc quyết toán khi gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, chuyển nhượng giấy phép khai thác khoáng sản… gây tốn kém chi phí cho bộ máy thực hiện nhiệm vụ này. Trong khi đó, việc quyết toán tiền cấp quyền hoàn toàn giống quyết toán thuế tài nguyên là 1 lần/năm, do cơ quan thuế địa phương thực hiện.
Đánh giá về việc thực hiện quy định, Sở NN&MT Lạng Sơn cho biết, pháp luật hiện đã cơ bản quy định rõ cách tính, phương pháp tính TCQKTKS phù hợp với các giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp trước đó, xác định TCQKTKS theo sản lượng thực tế hàng năm và không phải nộp TCQKTKS khi tạm dừng hoạt động, giảm áp lực về tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định tính TCQKTKS dựa trên trữ lượng (là con số ước tính, có tăng hoặc giảm) được phê duyệt/công nhận không đảm bảo tính chính xác tuyệt đối dẫn đến cơ quan quản lý nhà nước phải tính và phê duyệt lại TCQKTKS khi có sự thay đổi về trữ lượng trong quá trình khai thác khoáng sản, gây tốn kém nguồn lực và phát sinh các hệ lụy.
Số TCQKTKS lần đầu doanh nghiệp phải nộp là rất lớn, trong khi dự án đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản đang ở giai đoạn đầu tư (xây dựng cơ bản, chưa có sản phẩm) rất cần vốn đầu tư và doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có hoặc huy động từ tổ chức tín dụng. Điều này gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc bố trí vốn để đầu tư dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại trong khai thác, chế biến sâu khoáng sản.
Mặt khác, việc quyết toán TCQKTKS trùng với cách thức quyết toán thuế tài nguyên khoáng sản (đều theo sản lượng khai thác thực tế), nhưng lại do 2 cơ quan khác nhau thực hiện và việc quyết toán ở 2 thời điểm khác nhau gây ra những bất cập, vướng mắc và lãng phí nguồn lực để thực hiện cùng một vấn đề.
Tại Nghệ An, bất cập trong thực tiễn được Sở NN&MT Tỉnh nêu ra là việc điều chỉnh TCQKTKS. Theo đó, khi áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 136 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP và Nghị định số 21/2026/NĐ-CP, Sở NN&MT Nghệ An cho rằng, không nên điều chỉnh TCQKTKS trong trường hợp khi gia hạn, cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản. Quyết định phê duyệt TCQKTKS chỉ tính cho 1 giấy phép khai thác khoáng sản. Nếu điều chỉnh khi gia hạn, cấp lại giấy phép sẽ khó kiểm soát và không phù hợp với mục đích ban đầu của TCQKTKS (nhằm hạn chế các tổ chức thiếu năng lực xin khai thác khoáng sản tràn lan, không đưa mỏ vào hoạt động hiệu quả).
Sở này cũng cho biết, đang nghiên cứu quy định để xử lý việc quyết toán TCQKTKS. Bởi thực tiễn dễ dẫn đến tình trạng không có cơ sở kiểm soát đúng sản lượng đã khai thác, nguy cơ thiệt hại cho ngân sách nhà nước, gây áp lực cho người thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến quyết toán TCQKTKS.
Ngoài ra, khi có sự chênh lệch số liệu theo dõi giữa sổ sách, chứng từ với số liệu trong sổ theo dõi kiểm soát, doanh nghiệp phải giải trình và chịu trách nhiệm pháp lý. Việc kiểm soát này khó thực hiện triệt để do nhiều mỏ chưa lắp đặt đầy đủ thiết bị cân, thiết bị đo đạc hoặc camera giám sát theo quy định…, dễ dẫn đến sai sót, trốn thuế, thất thu ngân sách nhà nước mà không có biện pháp hữu hiệu để giám sát, quản lý.
Đề xuất thống nhất khoản thu để đơn giản hóa thủ tục
Từ thực tế nêu trên, Sở NN&MT Lạng Sơn đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản, nghị định hướng dẫn theo hướng gộp khoản thu TCQKTKS với thuế tài nguyên thành 1 khoản thu để đơn giản hóa quy trình, tiết kiệm chi phí về nhân lực, vật lực thực hiện 2 khoản thu (TCQKTKS và thuế tài nguyên) do 2 cơ quan khác nhau thực hiện.
Về phía Nghệ An, cơ quan quản lý lĩnh vực này đề xuất sửa đổi Luật theo hướng không quyết toán TCQKTKS, giữ nguyên việc tính, thu, nộp TCQKTKS theo quy định tại Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu TCQKTKS.
Nếu vẫn thực hiện quyết toán TCQKTKS, thì cần thống nhất các khoản thu thuế tài nguyên, TCQKTKS, phí bảo vệ môi trường. Bởi việc thu TCQKTKS đã thống nhất theo sản lượng khai thác thực tế, nếu đưa vào một mức thu chung (cộng thuế tài nguyên, TCQKTKS, phí bảo vệ môi trường) vào một mức thu (theo thuế tài nguyên hiện nay) sẽ đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc tính toán, thu nộp ngân sách.