|
| Nhiều địa phương gặp vướng mắc khi triển khai dự án BT do thiếu cơ sở xác định sơ bộ giá trị quỹ đất trong giai đoạn chuẩn bị dự án phù hợp với hiện trạng đất đai, quy hoạch. Ảnh: Gia Khoa |
Tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, đẩy nhanh tiến độ dự án
Khoản 4 Điều 16 NĐ 257 mở ra cơ chế thanh toán riêng đối với dự án độc lập có tổng mức đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên hoặc các dự án liên quan có liên kết chặt chẽ với dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm hoặc dự án có yêu cầu cấp bách. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định giao toàn bộ quỹ đất một lần cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT sau khi ký kết hợp đồng nếu quỹ đất thanh toán đáp ứng đủ điều kiện giao đất, cho thuê đất và nhà đầu tư phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền bảo lãnh của ngân hàng thương mại có giá trị tối thiểu bằng dự toán công trình BT được phê duyệt.
Từ góc độ doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phản ánh, quy định giao toàn bộ quỹ đất một lần là không khả thi do tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) tại địa phương thường kéo dài và không đồng bộ. Việc cho phép giao đất từng phần hoặc theo phân kỳ đầu tư tương ứng với giá trị bảo lãnh ngân hàng và khối lượng công trình thực tế hoàn thành sẽ giúp giảm chi phí bảo lãnh ngân hàng cho doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sạch mà vẫn bảo đảm an toàn quản lý tài sản công theo nguyên tắc của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Về nghiệm thu, thanh toán khối lượng và chi phí đầu tư thực hiện trước khi ký kết hợp đồng BT, VCCI cho rằng, Khoản 7 Điều 10 NĐ 257 cho phép cơ quan có thẩm quyền giao nhà đầu tư triển khai xây dựng công trình dự án BT đồng thời với quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng đối với một số dự án cấp bách. Quy định này giúp đẩy nhanh tiến độ nhưng chưa giải quyết được bài toán chi phí phát sinh trước hợp đồng. Theo VCCI, trong giai đoạn triển khai song song này, doanh nghiệp phải huy động vốn đầu tư và phát sinh chi phí lãi vay thực tế cùng khối lượng xây dựng đáng kể. Để bảo đảm sự công bằng, minh bạch và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu cấp bách của Nhà nước, VCCI đề nghị bổ sung quy định tại Khoản 7 Điều 10 theo hướng khối lượng công trình và các chi phí đầu tư xây dựng hợp pháp, bao gồm cả chi phí lãi vay phát sinh theo thực tế giải ngân trước khi ký hợp đồng BT, được nghiệm thu và thanh toán sau khi hợp đồng BT được ký kết theo đúng quy định pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Hiệp hội Bất động sản TP.HCM kiến nghị về quy trình thực hiện dự án BT, bổ sung Khoản 7 (mới, sau Khoản 6) vào Điều 4 NĐ 257 quy định cơ chế đối với các dự án BT có quy mô lớn, gồm nhiều hạng mục/dự án thành phần đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cho phép thực hiện việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật (trong trường hợp thiết kế ba bước) hoặc thiết kế bản vẽ thi công (trong trường hợp thiết kế hai bước) và dự toán cho từng dự án thành phần, trên cơ sở đó cho ký kết và thực hiện hợp đồng BT và thanh toán theo từng dự án thành phần để làm cơ sở cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án.
Một số nhà đầu tư đề xuất sửa quy định về ký hợp đồng BT sau khi dự toán, thiết kế công trình BT được phê duyệt. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật về xây dựng, đối với dự án đầu tư xây dựng có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn, việc xác định định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt phải thực hiện theo trình tự, thủ tục riêng. Đối với các dự án BT có tổng mức đầu tư lớn hoặc thuộc trường hợp phải áp dụng định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt, việc hoàn thành phê duyệt toàn bộ thiết kế, dự toán thường kéo dài, dẫn đến chậm ký kết hợp đồng BT và ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án. Do vậy, cần bổ sung quy định góp phần tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, tạo cơ sở đẩy nhanh việc ký kết hợp đồng và triển khai các dự án BT có quy mô lớn hoặc có yêu cầu kỹ thuật đặc thù, đồng thời bảo đảm cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện dự án.
Ngoài ra, theo một số địa phương, về xác định giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán, NĐ 257 quy định giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán cho nhà đầu tư được xác định trên cơ sở giá đất tại bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và diện tích có thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tại thời điểm lập dự án BT, nhiều quỹ đất mới chỉ có quy hoạch chung, chưa có quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết nên chưa có cơ sở xác định chính xác diện tích có thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Vướng mắc này cần được xử lý để có cơ sở xác định sơ bộ giá trị quỹ đất trong giai đoạn chuẩn bị dự án phù hợp với hiện trạng đất đai, quy hoạch tại các địa phương.
Đẩy mạnh công khai, giám sát quỹ đất thanh toán
Khi các thủ tục được đơn giản hóa, phân cấp mạnh, vấn đề hậu kiểm, giám sát, công khai, minh bạch thông tin dự án BT trở nên rất quan trọng, bởi lẽ từ thực tiễn thực hiện hình thức hợp đồng BT giai đoạn trước, nếu bị chi phối bởi lợi ích nhóm, có thể xảy ra rủi ro thất thoát nguồn lực đất đai.
Theo ý kiến của Thanh tra Chính phủ, Sở Tài chính các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Bộ Công Thương và Bộ Quốc phòng, cần quy định "bắt buộc" đối với việc niêm yết thông tin về vị trí, diện tích quỹ đất dự kiến thanh toán tại trụ sở UBND cấp xã nơi thu hồi đất, đồng thời đăng tải trên cổng thông tin điện tử. Đề xuất này nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch và phát huy vai trò giám sát của người dân đối với quỹ đất thanh toán dự án BT.
Sở Tài chính TP. Cần Thơ đề nghị bổ sung quy định cụ thể về thời gian đăng tải thông tin; bổ sung quy định về giám sát cộng đồng và số hóa hồ sơ dự án; bổ sung trách nhiệm của cơ quan ký kết hợp đồng trong việc báo cáo cơ quan có thẩm quyền trong quá trình triển khai dự án BT.
Đồng thời, một số ý kiến đề xuất hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng, dự án nhằm phòng ngừa lạm dụng, chống lãng phí và tiêu cực; bổ sung các trường hợp phải giám sát hoạt động lựa chọn nhà đầu tư, trong đó có các dự án áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt. Điều này được kỳ vọng góp phần kiểm soát rủi ro trong hoạt động lựa chọn nhà đầu tư và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan có thẩm quyền.