Thu hút đầu tư nước ngoài: Niềm tin bền vững trong trung, dài hạn

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là một điểm sáng trong bức tranh kinh tế năm 2025. Từ nền tảng này, nhiều ý kiến cho rằng, trong trung và dài hạn, Việt Nam vẫn là một điểm đến đầu tư hấp dẫn, với nhiều lợi thế cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh mới.

Năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào ngành chế biến, chế tạo đạt 21,01 tỷ USD, chiếm 54,7% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Ảnh: Lê Tiên
Năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào ngành chế biến, chế tạo đạt 21,01 tỷ USD, chiếm 54,7% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Ảnh: Lê Tiên

Năm 2025 nhiều điểm sáng

Theo Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính, năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, Việt Nam vẫn duy trì được dòng vốn FDI ở mức tương đối cao cho thấy nền kinh tế đã và đang khẳng định vị thế trong mạng lưới sản xuất và đầu tư khu vực. Tổng vốn ĐTNN đăng ký vào Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 38,42 tỷ USD, phản ánh niềm tin của cộng đồng nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, sự ổn định chính trị - xã hội và triển vọng tăng trưởng trung và dài hạn của Việt Nam. Cùng với đó, vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm trước, là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm qua. Dòng vốn này không chỉ góp phần mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế mà còn từng bước nâng cao trình độ công nghệ, kỹ năng quản trị, tiêu chuẩn lao động và khả năng tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, Cục Thống kê phân tích, cơ cấu dòng vốn FDI theo ngành cho thấy sự tập trung rõ nét vào khu vực sản xuất, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực trụ cột của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong nhiều năm qua. Cụ thể, năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào ngành chế biến, chế tạo đạt 21,01 tỷ USD, chiếm 54,7% tổng vốn FDI vào Việt Nam, vốn thực hiện đạt 22,88 tỷ USD, chiếm 82,8% tổng vốn FDI thực hiện. Dòng vốn FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo không chỉ có quy mô lớn mà còn có xu hướng ổn định và mở rộng theo chiều sâu, thể hiện rõ qua tỷ trọng vốn điều chỉnh tăng thêm tương đối cao, phản ánh việc nhiều dự án FDI hiện hữu tiếp tục mở rộng công suất, gia tăng quy mô sản xuất, nâng cấp dây chuyền công nghệ và kéo dài thời gian hoạt động tại Việt Nam. Từ đó, có thể thấy mức độ gắn bó ngày càng lớn của các tập đoàn đa quốc gia đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong cơ cấu nội ngành, dòng vốn FDI tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu như điện tử, linh kiện, thiết bị điện, cơ khí chế tạo, dệt may, da giày và chế biến thực phẩm. Đồng thời, đã xuất hiện ngày càng rõ xu hướng đầu tư vào các phân ngành có hàm lượng công nghệ cao, yêu cầu kỹ thuật phức tạp và giá trị gia tăng lớn hơn, phù hợp với định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Báo cáo Chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI) của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cho biết, BCI quý IV/2025 tăng mạnh lên 80 điểm, quay trở lại mức trước đại dịch Covid-19, khi các doanh nghiệp ghi nhận mức độ tin tưởng cao hơn vào môi trường hoạt động cũng như triển vọng kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Niềm tin bền vững, triển vọng tích cực

Theo bà Phí Thị Phương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Cục Thống kê, việc FDI thực hiện tăng trưởng ổn định trong thời gian qua là nền tảng vững chắc, góp phần củng cố niềm tin và tạo động lực cho các nhà đầu tư đang quan tâm, tìm hiểu cơ hội tại Việt Nam triển khai các dự án trong thời gian tới. Từ đó, tạo thêm năng lực đầu tư sản xuất, dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế trong các năm tiếp theo. Năm 2026, Việt Nam tiếp tục định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, tăng cường liên kết với khu vực trong nước…

EuroCham cho biết, trong quý IV/2025, 65% doanh nghiệp đánh giá tích cực tình hình kinh doanh của mình và con số này tăng lên 69% khi nhìn sang quý I/2026. Tâm lý kinh doanh chung cho giai đoạn 5 năm tới ở mức rất tích cực, với 88% doanh nghiệp bày tỏ sự lạc quan về triển vọng tại Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có 31% cho biết "rất lạc quan". Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp với vai trò là điểm đến đầu tư, với 87% người trả lời sẵn sàng giới thiệu về Việt Nam cho các doanh nghiệp nước ngoài khác. Kết quả này cho thấy niềm tin tiếp tục được duy trì đối với Việt Nam như một thị trường tăng trưởng và đầu tư trong trung hạn, bất chấp những bất định ngắn hạn vẫn luôn tồn tại.

Công ty CP Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) nhận định, triển vọng 2026 cũng như dài hạn của dòng vốn FDI vào Việt Nam là tích cực. Cụ thể, Việt Nam vẫn duy trì lợi thế chi phí nhân công, nguồn lao động dồi dào và môi trường chính trị ổn định; trong khi mức thuế mà Mỹ áp với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh không chênh lệch nhiều. Đồng thời, sự phân mảnh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày một rõ nét, tạo sức ép cho các doanh nghiệp toàn cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng, đây là cơ hội để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao, nâng tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với tác động của mức thuế 40% áp lên hàng hóa trung chuyển (trong bối cảnh Mỹ vẫn chưa ban hành quy định chi tiết), nhóm nghiên cứu của KBSV cho rằng, dòng vốn của các doanh nghiệp FDI có tỷ lệ nội địa hóa thấp sẽ chịu tác động dài hạn, nhưng sẽ có doanh nghiệp nỗ lực gia tăng tỷ lệ nội địa hóa ở Việt Nam để không bị đánh mức thuế cao. Dự báo nhóm có khả năng sẽ giảm đầu tư vào Việt Nam trong dài hạn chủ yếu gồm các doanh nghiệp FDI đầu tư với mục tiêu trung chuyển, lách xuất xứ, có tỷ lệ nội địa hóa thấp với các lĩnh vực rủi ro cao là thiết bị quang học, đo lường, y tế, máy giặt, tủ lạnh.

Nhóm có khả năng sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp nhắm đến lợi thế chi phí lao động và môi trường chính trị ổn định. Nhóm này bị phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ngoài Việt Nam - có mức nội địa hóa thấp, như dệt may, giày dép, máy móc và thiết bị cơ khí. Nhóm chịu tác động nhỏ hoặc gần như không bị ảnh hưởng sẽ tiếp tục kế hoạch đầu tư vào Việt Nam bao gồm doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phục vụ ngành công nghệ cao cho thị trường Mỹ như chip bán dẫn, máy tính, điện thoại…; các doanh nghiệp đầu tư với định hướng xuất khẩu sang các thị trường khác ngoài Mỹ.

Kết nối đầu tư