|
| Chính phủ đã và đang tạo hệ sinh thái cho đầu tư công nghệ cao. Ảnh: Tuấn Anh |
Ông đánh giá như thế nào về kết quả thu hút ĐTNN năm 2025?
Năm 2025, hoạt động thu hút ĐTNN vào Việt Nam tiếp tục diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, biến động khó lường về địa chính trị, xu hướng tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu, sự gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại và quá trình tái cấu trúc các chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh này, rất khó để có sự tăng trưởng về thu hút ĐTNN. Mức tăng tới 9% về vốn ĐTNN thực hiện tại Việt Nam trong năm qua là con số rất ấn tượng; cùng với đó, tổng vốn đăng ký duy trì ổn định, tăng 0,5% so với năm trước, phản ánh nhà đầu tư quốc tế giữ vững niềm tin đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, sự ổn định chính trị - xã hội và triển vọng tăng trưởng trung và dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
Trong cơ cấu vốn đăng ký, vốn góp, mua cổ phần của nhà ĐTNN tăng hơn 54% so với năm trước, thông qua đó, một lượng vốn lớn đã trực tiếp rót vào những doanh nghiệp đang hoạt động, gia tăng năng lực tài chính, chuyển giao công nghệ, thương hiệu, tạo sự phát triển nhanh hơn cho doanh nghiệp Việt Nam.
Xu hướng tích cực khác vẫn được duy trì là các nhà đầu tư tiếp tục đẩy mạnh đăng ký và giải ngân đầu tư vào ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam, trong đó nhiều lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, có lợi thế so sánh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Một điểm đáng chú ý trong năm 2025 là Trung Quốc với số vốn đăng ký 3,64 tỷ USD vươn lên đứng thứ hai về vốn đăng ký cấp mới vào Việt Nam, chỉ sau Singapore (4,84 tỷ USD), nếu cộng cả Đặc khu hành chính Hồng Kông (1,73 tỷ USD) thì vượt Singapore. Trung Quốc hiện có nhiều công nghệ lõi, nếu nhà đầu tư Trung Quốc tăng sự quan tâm tới thị trường Việt Nam và chúng ta chọn lọc, thu hút được nhà đầu tư chiến lược, công nghệ cao, có chất lượng, tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thì sẽ mở ra tiềm năng tốt cho thu hút ĐTNN thời gian tới. Bên cạnh đó, dòng vốn từ châu Âu cũng có sự khởi sắc khi Thụy Điển vươn lên đứng thứ 5, với vốn đăng ký 1 tỷ USD.
Sức hút đầu tư và triển vọng thu hút ĐTNN năm 2026 được dự liệu ra sao, thưa ông?
Bên cạnh những lợi thế vốn có, trong năm nay, một số chính sách liên quan đến hoạt động thu hút ĐTNN, trong đó có Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ có hiệu lực thi hành, với nhiều quy định đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tăng ưu đãi đối với công nghệ chiến lược, công nghệ cao, minh bạch hơn nữa môi trường kinh doanh. Nếu được thực thi hiệu quả, nhanh chóng, kết hợp với xúc tiến đầu tư, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tôi cho rằng triển vọng thu hút ĐTNN sẽ tích cực cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện.
Nhà đầu tư châu Âu, Mỹ có công nghệ cao, chất lượng dự án tốt nhưng hiện đầu tư vào Việt Nam còn khiêm tốn. Đây cũng chính là tiềm năng, dư địa thu hút trong thời gian tới. Nhiều tập đoàn lớn của châu Âu, Mỹ đã thể hiện sự quan tâm, nhiều đoàn sang tìm hiểu môi trường đầu tư của Việt Nam. Việt Nam cũng đã và đang chuẩn bị các điều kiện tạo hệ sinh thái cho công nghệ cao để đón bắt cơ hội. Nếu nhà đầu tư Mỹ, châu Âu hiện thực hóa những mối quan tâm lớn thời gian gần đây, sẽ tạo cú hích đầu tư mạnh vào Việt Nam trong thời gian tới.
Như đã nêu ở trên, dòng vốn từ Trung Quốc cũng có nhiều tiềm năng. Ngoài ra, do sự bất ổn địa chính trị thế giới, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng tìm kiếm địa chỉ đầu tư ổn định, có khả năng kết nối rộng mở với thị trường quốc tế như Việt Nam.
Để hiện thực hóa những tiềm năng trên, đón bắt và hấp thụ được dòng vốn chất lượng cao, theo ông, cần giải pháp gì?
Để đón được dòng vốn chất lượng cao, Việt Nam phải tạo ra hệ sinh thái cho đầu tư công nghệ cao. Hệ sinh thái bao gồm chính sách, nhân lực, thủ tục hành chính, ưu đãi, hạ tầng, logistics… Trong đó, phải nhanh chóng ổn định, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý nhà nước sau sắp xếp lại địa giới hành chính, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; thực thi hiệu quả các cơ chế, chính sách mới; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; đào tạo tốt nguồn nhân lực đáp ứng dự án có công nghệ cao; thủ tục hành chính thông thoáng hơn; cải thiện chất lượng hạ tầng, giảm chi phí logistics… Tất cả những việc này Chính phủ đã và đang chú trọng thực hiện, nhưng cần tiếp tục làm với tốc độ nhanh hơn, hiệu quả rõ nét hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh, đón bắt cơ hội.
Và theo tôi, mục tiêu quan trọng hơn của thu hút ĐTNN trong giai đoạn hiện nay, không phải là số lượng mà là chất lượng, sự lan tỏa, liên kết với doanh nghiệp trong nước. Thông qua đó, doanh nghiệp Việt Nam tiếp thu được công nghệ, nâng cao năng lực, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Muốn lan tỏa, muốn liên kết và cùng thắng, chúng ta phải có doanh nghiệp Việt Nam mạnh, đủ tầm bắt tay bình đẳng với nhà ĐTNN thông qua liên doanh liên kết hoặc cung ứng công nghiệp hỗ trợ, và hỗ trợ ở phân khúc công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, chứ không phải chỉ làm phần việc giản đơn. Việt Nam đã và đang hình thành những tập đoàn mạnh trong nước, nhưng cần thêm chính sách khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn lớn vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thì mới có bước chuyển mạnh mẽ. Có thể theo hình thức như các tập đoàn lớn thành lập công ty con chuyên về công nghiệp hỗ trợ, cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, giải quyết được chuyển giao công nghệ, tạo giá trị gia tăng, tham gia chuỗi giá trị.
Củng cố năng lực cho doanh nghiệp trong nước vừa để cùng thắng trong thu hút ĐTNN, vừa để tăng cường nội lực cho hành trình phát triển nhanh, bền vững của đất nước.