|
| Quang cảnh phiên họp |
Sáng 6/11, tại Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi).
Mỗi trường hợp chỉ định thầu phải có văn bản giải trình, phê duyệt theo cấp giá trị
Tại phiên họp, đa số các ĐBQH tán thành việc sửa đổi Luật Đấu thầu và định hướng phân cấp mạnh cho chủ đầu tư. Bởi đấu thầu là phương tiện, hiệu quả mới là mục tiêu. Mục tiêu cuối cùng của Luật Đấu thầu là hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước và xã hội.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn – Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng cho biết, Điểm i khoản 6 Điều 19 của dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi) cho phép chỉ định thầu “các gói thầu khác” để đáp ứng tiến độ, chất lượng, hiệu quả. Khoản 2 Điều 56 dự thảo Nghị định đã liệt kê một số trường hợp cụ thể, nhưng điểm g vẫn giữ quy định mở “các gói thầu khác”. Tiến độ, hiệu quả là mục tiêu của mọi gói thầu, nên thiếu tiêu chí khách quan thì khó phân biệt ngoại lệ với trường hợp phải cạnh tranh.
Về trách nhiệm khi chậm tiến độ, dự thảo Luật đã có nền tảng nhưng theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, vấn đề không phải chưa có trách nhiệm hoặc chế tài, mà là cần xác định rõ hơn cách kiểm chứng và xử lý khi lý do chỉ định thầu nhằm bảo đảm tiến độ không đạt được trong thực tế, nhất là phân định nguyên nhân thuộc chủ đầu tư hay nhà thầu.
Do đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, cần thay quy định mở tại điểm i khoản 6 Điều 19 bằng nguyên tắc chỉ định thầu chỉ áp dụng cho trường hợp được liệt kê cụ thể; quyết định chỉ định thầu phải công khai lý do, tiến độ cam kết và được đối chiếu với tiến độ thực hiện. Bên cạnh đó, bổ sung vào Điều 38 việc chủ đầu tư chậm thanh toán phải trả lãi không thấp hơn mức Chính phủ quy định, người gây chậm vốn, chậm mặt bằng phải chịu trách nhiệm. Ngoài ra, bổ sung vào khoản 2 Điều 40 về việc chậm tiến độ, kém chất lượng do lỗi nhà thầu đã được xác định bằng văn bản thì bị khấu trừ bảo đảm tương ứng; bổ sung vào khoản 2 Điều 53 biện pháp hạn chế dự thầu có thời hạn với nhà thầu bị chấm dứt hợp đồng do lỗi của mình.
Nêu quan điểm về chỉ định thầu, đại biểu Lê Hoàng Anh – Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho biết, năm 2025, trong gần 300 nghìn gói thầu, cứ 5 gói thì gần 4 gói là chỉ định thầu, tỷ lệ 78,35%, tương đương 4,2%GDP; đấu thầu rộng rãi chỉ còn 12,25%. Trong khi đó, Liên minh châu Âu coi tỷ lệ trao thầu trực tiếp từ 10% đã là báo động đỏ. Không nước nào cấm chỉ định thầu, nhưng ở đâu chỉ định thầu cũng bị khóa bằng luật, phải giải trình và phải công khai.
Báo cáo 915 cho biết, Nghị định sẽ quy định cụ thể các trường hợp chỉ định thầu. Nhưng điểm g khoản 2 Điều 56 dự thảo Nghị định lại chép gần như nguyên văn điểm i khoản 6 Điều 19 của Luật, đó là: “các gói thầu khác… cần áp dụng hình thức chỉ định thầu”. Hạn mức chỉ định thầu vẫn trần 30 tỷ đồng, trong khi Điều 16 của dự thảo Nghị định dành gói thầu đến 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - một gói thầu 20 tỷ đồng vừa “dành riêng” cho doanh nghiệp nhỏ, vừa có thể chỉ định cho một nhà thầu, lại không phải bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Theo đại biểu Lê Hoàng Anh, ở đâu ngoại lệ không bị khóa, ở đó cơ chế “xin - cho”, lợi ích nhóm có đất sống. Nghị quyết 04 yêu cầu xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho; Nghị quyết 68 chỉ cho chỉ định thầu với nhiệm vụ chiến lược, cấp bách; Điều 51 Hiến pháp khẳng định các chủ thể kinh tế bình đẳng, cạnh tranh theo pháp luật. Như vậy, cạnh tranh phải là gốc.
Đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị khẳng định tại Điều 4 đấu thầu rộng rãi là chủ yếu như chính Báo cáo 915 viết “đấu thầu rộng rãi vẫn là hình thức được áp dụng trong mọi trường hợp”; bỏ điểm i; chỉ định thầu theo danh mục quy định tại Luật; hạn mức không vượt ngưỡng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mỗi trường hợp chỉ định thầu phải có văn bản giải trình, phê duyệt theo cấp giá trị và công khai ít nhất 5 ngày làm việc trước khi ký.
Giá gói thầu chỉ dựa trên một báo giá hoặc cao hơn giá trúng thầu tương tự trên hệ thống thì phải giải trình
Đề cập về quyết định giá gói thầu, đại biểu Tô Ái Vang – Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ cho biết, tại Điều 14 quy định các hành vi bị cấm và Điều 46 quy định Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Chủ đầu tư, người có thẩm quyền. Luật triệt để phân cấp cho chủ đầu tư tự quyết định giá gói thầu và lựa chọn nhà thầu.
Tuy nhiên, theo đại biểu Tô Ái Vang, ở chiều ngược lại, khi quy định về hành vi nâng khống giá tại Điều 16, lại hoàn toàn thả nổi tiêu chí định lượng, chỉ dựa vào sự chênh lệch số học so với mặt bằng hoặc cơ sở dữ liệu tham chiếu tại thời điểm hậu kiểm. Khoảng trống pháp lý này vô tình làm cho cán bộ sẽ có tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm. Bởi vì, thị trường biến động, công nghệ mới không có giá chuẩn, chủ đầu tư dám đâu tự chủ khi biết rằng chênh lệch giá hôm nay có thể trở thành căn cứ quy kết tội danh hình sự ngày mai?
Do đó, đại biểu Tô Ái Vang bổ sung vào Điều 14 hành vi nâng khống giá chỉ bị khép tội khi có chứng cứ chứng minh yếu tố vụ lợi, thông đồng hoặc gian lận có tổ chức. Tuyệt đối không quy kết vi phạm đối với phần chênh lệch giá do biến động thị trường hoặc tính đặc thù kỹ thuật nếu chủ đầu tư đã tuân thủ đúng quy trình.
Ngoài ra, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 46, quy định rõ cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho chủ đầu tư, trước các biến động khách quan của thị trường khi đã thực hiện trung thực, đầy đủ quy trình xác định giá. Bởi nếu không làm rõ ranh giới này, quyền phân cấp tự chủ chỉ là hình thức và địa phương sẽ tiếp tục tình trạng đùn đẩy, né tránh, làm chậm trễ giải ngân đầu tư công.
Liên quan đến xác định giá gói thầu, tại Điểm b khoản 1 Điều 27 của dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) cho phép xác định giá gói thầu theo một trong nhiều nguồn; dự thảo Nghị định chấp nhận tối thiểu 01 báo giá. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn – Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng cho rằng, sự linh hoạt này cần thiết với hàng hóa đặc thù, nhưng khi giá gói thầu chưa sát thị trường thì tỷ lệ giảm giá không chứng minh được hiệu quả, chính Báo cáo 915 cũng nhận định tỷ lệ tiết kiệm không phải tiêu chí duy nhất. Điều 29 có phương pháp giá đánh giá, nhưng chưa xác định gói thầu nào phải tính chi phí vận hành, bảo trì trong vòng đời; với thiết bị y tế, công trình hạ tầng, giá mua thấp chưa chắc là tổng chi phí thấp.
Đáng lưu ý, khoản 2 Điều 41 cho chủ đầu tư quyết định sửa đổi hợp đồng vượt giá gói thầu, chỉ cần không vượt tổng mức đầu tư, dự toán mua sắm. Đây là quyền cần thiết để xử lý phát sinh hợp pháp; nhưng cùng với khoản 1 Điều 39 cho giá hợp đồng trọn gói thay đổi trong “các trường hợp khác do các bên thỏa thuận”, dự thảo chưa phân biệt thay đổi cần thiết với thay đổi làm sai lệch kết quả cạnh tranh, dẫn đến kẽ hở để bỏ giá thấp khi chọn, điều chỉnh tăng khi làm. Hiệp định CPTPP giới hạn khối lượng xây lắp phát sinh giao thêm không qua đấu thầu ở mức không quá 50% giá trị hợp đồng ban đầu.
Với những lý lẽ nêu trên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị bổ sung vào điểm b khoản 1 Điều 29 việc hàng hóa, công trình có chi phí sau mua đáng kể và lượng hóa được thì phải áp dụng giá đánh giá có tính chi phí vòng đời. Bên cạnh đó, sửa khoản 1 Điều 39 các trường hợp thay đổi giá hợp đồng trọn gói phải được quy định rõ trong hồ sơ mời thầu và hợp đồng. Bổ sung vào Điều 41 việc sửa đổi không được làm thay đổi bản chất gói thầu, phạm vi đã cạnh tranh; khối lượng mới vượt phạm vi phải lựa chọn nhà thầu theo quy định; điều chỉnh vượt giá gói thầu phải công khai căn cứ trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, vượt ngưỡng do Chính phủ quy định thì người có thẩm quyền chấp thuận. Ngoài ra, bổ sung vào điểm b khoản 1 Điều 27 về việc giá gói thầu chỉ dựa trên một báo giá, hoặc cao hơn giá trúng thầu tương tự trên hệ thống thì phải giải trình; lấy giá quyết toán so với giá trúng thầu làm thước đo hiệu quả.