Phát huy các động lực cho tăng trưởng cao

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Theo tính toán của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số (10%) trong năm 2026, 6 tháng cuối năm, tăng trưởng GDP cần đạt 11,7%. Đây là áp lực rất lớn với nền kinh tế, đặt ra yêu cầu hóa giải các điểm nghẽn thể chế tồn đọng, cộng hưởng mạnh mẽ giữa các động lực tăng trưởng truyền thống và các động lực mới mang tính chiến lược.

Tiến độ giải ngân đầu tư công cần được cải thiện mạnh mẽ, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích tổng cầu của nền kinh tế. Ảnh: Nhật Tuệ
Tiến độ giải ngân đầu tư công cần được cải thiện mạnh mẽ, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích tổng cầu của nền kinh tế. Ảnh: Nhật Tuệ

Duy trì nhịp tăng trưởng ổn định

Tiếp đà tăng trưởng của quý I, kinh tế Việt Nam quý II/2026 ghi nhận tốc độ tăng GDP 8,39% (cao hơn 0,25 điểm phần trăm so với mức tăng 8,14% cùng kỳ năm 2025). Tính chung 6 tháng, GDP tăng 8,18% (cao hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức tăng 7,63% cùng kỳ năm 2025).

Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, đây được coi là kết quả tăng trưởng khá ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bất ổn và rủi ro gia tăng. Trong đó, tăng trưởng quý II và 6 tháng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản lần lượt là 4,06% và 3,87%; khu vực công nghiệp và xây dựng là 10,51% và 9,81%; khu vực dịch vụ tăng 7,87% và 8,09%. Kết quả này cho thấy nền kinh tế tiếp tục phục hồi, duy trì được nhịp tăng trưởng tương đối ổn định, phản ánh những nỗ lực lớn trong điều hành và tinh thần vượt khó khăn của cả nền kinh tế.

Theo cơ quan thống kê, các động lực tăng trưởng truyền thống vẫn đang được duy trì và phát huy vai trò nền tảng, tạo nên trục vận hành thông suốt của nền kinh tế. Trong đó, đầu tư công dẫn dắt trong quý II với tiến độ giải ngân được cải thiện so với cùng kỳ năm ngoái, đặc biệt ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao. Việc đẩy mạnh giải ngân trong quý II không chỉ trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng ngành xây dựng và các ngành liên quan, mà còn tạo hiệu ứng “kéo” đối với đầu tư khu vực tư nhân, qua đó cải thiện năng lực sản xuất và kết nối hạ tầng trong trung và dài hạn.

Sản xuất và xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, phản ánh sức chống chịu và năng lực thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng tốt kể từ quý I, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục diễn ra sôi động, tạo điểm tựa vững chắc cho hoạt động sản xuất trong nước.

Tiêu dùng của hộ gia đình có xu hướng cải thiện, đóng vai trò ổn định tổng cầu, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài. Đồng thời, cơ cấu tiêu dùng đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phản ánh sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo chiều sâu.

Cơ hội và thách thức đan xen

Với kết quả tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm mà Quốc hội giao, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê cho biết, nền kinh tế có nhiều yếu tố thuận lợi để duy trì đà tăng trưởng. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Các dự án trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và năng lượng tiếp tục tạo dư địa mở rộng năng lực sản xuất trong trung và dài hạn.

Các ngành thương mại, vận tải, logistics, tài chính - ngân hàng, công nghệ thông tin, lưu trú, ăn uống và du lịch được kỳ vọng duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu trong nước gia tăng và sự phục hồi của thị trường khách quốc tế.

Đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm. Với quy mô vốn đầu tư công lớn và nhiều dự án hạ tầng trọng điểm đang được triển khai như đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các trục cao tốc liên vùng, 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) vừa được Hà Nội khởi công…, việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đến ngành xây dựng, công nghiệp chế biến vật liệu, vận tải, thương mại và tạo thêm việc làm, qua đó kích thích tổng cầu của nền kinh tế. Cùng với đó, đầu tư tư nhân cũng được kỳ vọng hồi phục, góp phần cùng đầu tư công mở rộng tổng cầu và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Bên cạnh các động lực truyền thống, các động lực tăng trưởng mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ, từng bước thâm nhập vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Hiện nay, các động lực này chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ, chưa thực sự trở thành lực kéo chính cho tăng trưởng. Việc chuyển hóa các yếu tố này và những cải cách đồng bộ về thể chế, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo sẽ trở thành động lực trong thời gian tới.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, bà Mai Hạnh nhấn mạnh một số giải pháp. Trước hết, các bộ, ngành, địa phương cần khơi thông nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, ưu tiên cắt giảm thực chất các rào cản hành chính và minh bạch hóa các dữ liệu kinh tế để có cơ sở ra quyết định nhanh chóng; đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông, dự án trọng điểm. Với cộng đồng doanh nghiệp, cần tăng tốc chuyển đổi số, nâng cấp chuỗi giá trị, tránh phụ thuộc vào nguồn cung và một thị trường duy nhất nhằm giảm thiểu rủi ro và các cú sốc địa chính trị, phòng vệ thương mại.

6 tháng cuối năm thường là giai đoạn tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, song bà Hạnh cho rằng, vẫn cần dự phòng những rủi ro từ những khó khăn trong giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục điều chỉnh dự án kéo dài, thiếu nguồn vật liệu xây dựng tại một số địa phương và năng lực triển khai không đồng đều giữa các chủ đầu tư. Nếu tiến độ giải ngân không được cải thiện mạnh mẽ, hiệu ứng lan tỏa đến ngành xây dựng, công nghiệp vật liệu, vận tải và khu vực doanh nghiệp sẽ bị hạn chế.

Bên cạnh đó, cần nhận diện một số áp lực đối với tăng trưởng như xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, mở rộng các biện pháp phòng vệ thương mại và rào cản kỹ thuật làm gia tăng rủi ro đối với xuất khẩu của Việt Nam; nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường lớn chưa phục hồi vững chắc, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và giá nhiều mặt hàng xuất khẩu có xu hướng giảm khiến khu vực xuất khẩu dễ bị tổn thương trước những thay đổi về chính sách thương mại hoặc biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Kết nối đầu tư