|
| Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp |
Mở rộng phạm vi đất giáo dục và bài toán đồng bộ quy hoạch hạ tầng
Tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội đều thể hiện sự đồng tình cao với chủ trương nhân văn của Nhà nước trong việc miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nhằm giảm chi phí đầu tư, vận hành và khuyến khích xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai tại các địa phương, nhiều đại biểu cho rằng các quy định hiện hành trong dự thảo luật vẫn còn mang tính định tính, dễ dẫn đến cách hiểu hẹp và bỏ sót các không gian chức năng thiết yếu của cơ sở giáo dục.
Góp ý cụ thể vào dự thảo, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) phân tích, hoạt động giáo dục và đào tạo không chỉ diễn ra bên trong bốn bức tường phòng học mà đòi hỏi một hệ sinh thái hạ tầng đi kèm vô cùng phong phú. Đại biểu nhấn mạnh, "nếu chỉ hiểu đất sử dụng vào mục đích giáo dục theo nghĩa hẹp là diện tích xây dựng phòng học thì có thể bỏ sót nhiều diện tích thiết yếu trực tiếp phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo."
Từ nhận định đó, đại biểu đề nghị ban soạn thảo bổ sung quy định rõ ràng, bao gồm cả diện tích xây dựng công trình giảng dạy, học tập, nghiên cứu, thực hành, thư viện, sân chơi, bãi tập, ký túc xá và các công trình phụ trợ phục vụ trực tiếp cho hoạt động giáo dục. Song hành với việc mở rộng phạm vi, đại biểu cũng lưu ý sự cần thiết phải phân định rạch ròi giữa diện tích phục vụ giáo dục với diện tích được sử dụng vào mục đích kinh doanh độc lập. Điều này mang ý nghĩa sống còn nhằm bảo đảm ưu đãi phát huy đúng đối tượng, đúng mục đích, đồng thời bịt kín các kẽ hở có thể bị lợi dụng để trục lợi chính sách.
Chia sẻ góc nhìn toàn diện hơn về quỹ đất trường học, đại biểu Lê Thị Thanh Xuân (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) nhìn nhận, ưu đãi thuế không đồng nghĩa với việc đã giải quyết trọn vẹn bài toán thiếu hụt quỹ đất trường học tại các đô thị lớn, khu công nghiệp hay khu vực biên giới nơi dân số tăng cơ học nhanh chóng. Đại biểu kiến nghị việc triển khai chính sách miễn thuế đất phải đi đôi với đồng bộ quy hoạch, chủ động bố trí quỹ đất trường học và xem xét khai thác các vị trí quỹ đất trụ sở công, nhà đất dôi dư sau sắp xếp để bổ sung cho mục đích giáo dục. Đối với phần đất sử dụng hỗn hợp vừa phục vụ giáo dục vừa kết hợp hoạt động thương mại dịch vụ, cần có hướng dẫn cụ thể cách xác định diện tích được miễn thuế để đảm bảo tính công bằng.
Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục theo mô hình "phi lợi nhuận"
Vấn đề thu hút sự quan tâm tại hội trường là chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Trong khi nhiều ý kiến ủng hộ việc tạo động lực phát triển xã hội hóa, một số đại biểu đã đưa ra những cảnh báo sắc sảo về nguy cơ trục lợi chính sách và sự phân hóa sâu sắc giữa các loại hình trường học.
Ủng hộ chủ trương chung, đại biểu Lê Thị Thanh Xuân đánh giá cao định hướng miễn thuế TNDN bao gồm cả thu nhập từ hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ, phụ trợ giáo dục. Dù vậy, đại biểu đề nghị cần có hướng dẫn minh bạch để ranh giới giữa dịch vụ hỗ trợ giáo dục với các hoạt động kinh doanh độc lập không bị mập mờ. Đặc biệt, đối với các cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, cần có cơ chế giám sát thực chất để đảm bảo không có việc chia lợi tức, không rút vốn và toàn bộ phần tích lũy phải được quay vòng phát triển nhà trường.
Tuy nhiên, tiếp cận từ lăng kính thực tiễn quản lý tài chính và công bằng xã hội, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) và đại biểu Nguyễn Văn Thân (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đã đưa ra những góc nhìn khác.
Phân tích số liệu và thực trạng tại các địa bàn trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, đại biểu Phạm Văn Hòa chỉ ra, các cơ sở giáo dục ngoài công lập (đặc biệt là các trường danh tiếng, trường mang yếu tố quốc tế) có số lượng học sinh rất lớn, mức thu học phí cao và nguồn thu nhập, lợi nhuận khổng lồ. Đại biểu nêu quan điểm, "nếu chúng ta miễn thuế 100% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở tư thục loại hình này thì có khả năng sắp tới đây nhiều cơ sở giáo dục tư thục họ sẽ chuyển sang mô hình hoạt động không vì lợi nhuận."
Đại biểu đặt câu hỏi chất vấn về năng lực kiểm tra của cơ quan thuế khi đối mặt với làn sóng chuyển đổi mô hình trên giấy tờ, đồng thời nhấn mạnh rằng người học tại các trường này chủ yếu là con em gia đình khá giả, do đó việc điều tiết thuế đối với họ là hoàn toàn hợp lý và số thu ngân sách mang lại không hề nhỏ. Từ đó, đại biểu đề nghị thu hẹp phạm vi miễn thuế toàn diện, thay vào đó nên tập trung ưu đãi đặc biệt để kêu gọi đầu tư giáo dục chất lượng cao vào các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn như Đông Bắc, Tây Bắc hay Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Văn Thân dẫn số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy cả nước hiện có khoảng 3.900 cơ sở giáo dục ngoài công lập với xu hướng ngày càng tăng, nhưng đa phần chưa đáp ứng được tiêu chí xã hội hóa nên chưa được hưởng ưu đãi hiện hành. Điều này chứng minh phần lớn khu vực ngoài nhà nước đang hoạt động theo cơ chế thị trường. Đại biểu khẳng định việc vận hành các cơ sở giáo dục tư nhân nên tuân thủ cơ chế thị trường để đảm bảo chất lượng dạy học và cơ sở vật chất, đồng thời bày tỏ sự chưa đồng tình với việc cào bằng miễn thuế TNDN cho khối tư thục không vì lợi nhuận vì có thể tạo ra sự bất bình đẳng trong nền kinh tế.
Gỡ khó chính sách thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn bán trú: Từ bất cập thực tiễn đến kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chính sách miễn thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hoạt động cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục và cơ sở khám chữa bệnh được nhìn nhận là một chủ trương rất nhân văn nhằm chăm lo dinh dưỡng cho học sinh (đặc biệt là học sinh bán trú vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) và người bệnh. Tuy nhiên, các đại biểu nhấn mạnh nhiều điểm nghẽn về mặt kỹ thuật pháp lý và thủ tục hành chính khiến chính sách khó đi vào cuộc sống nếu không được điều chỉnh thấu đáo.
Đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) chỉ ra những điểm bất hợp lý tại khoản 2 - Điều 1 và Điều 3 của dự thảo. Đối với doanh nghiệp nộp thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, dự thảo quy định miễn thuế tính trên "phần thu nhập từ cung cấp suất ăn". Tuy nhiên, bản chất của nhóm doanh nghiệp này là không bóc tách được chi phí hợp lý để tính ra lợi nhuận. Đại biểu đặt câu hỏi "vậy thì cơ quan thuế sẽ căn cứ vào đâu để xác định phần thu nhập được miễn?". Sự bất khả thi trong khâu tính toán này chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột, sự tùy nghi áp dụng giữa người nộp thuế và cán bộ thuế. Do đó, đại biểu kiến nghị sửa đổi cụm từ thành: "...được miễn thuế tính trên phần doanh thu hoặc doanh thu quy đổi từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh".
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, đại biểu nêu thực tế cho thấy chi phí thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính để xin miễn thuế đôi khi còn cao hơn cả số tiền thuế được miễn, khiến hộ kinh doanh nản lòng và giá suất ăn của học sinh, bệnh nhân vẫn không thể giảm. Vì vậy, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị bổ sung cơ chế "đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, việc miễn thuế được thực hiện bằng hình thức giảm trừ trực tiếp vào mức khoán doanh thu định kỳ dựa trên hợp đồng cung cấp suất ăn hợp pháp."
Chia sẻ thực tế tại tỉnh Đắk Lắk, đại biểu Lê Thị Thanh Xuân cho biết nhiều trường học hiện phải mua thực phẩm trực tiếp từ các hộ sản xuất và cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, dẫn đến việc lập hóa đơn chứng từ và xác minh nguồn gốc gặp muôn vàn khó khăn, nguồn cung và giá vận chuyển tại vùng biên giới, vùng xa chưa ổn định. Bên cạnh đó, nhiều trường tiểu học, mầm non vẫn thiếu vị trí việc làm nhân viên nấu ăn, thiếu bếp ăn, nhà ăn, kho bảo quản và trang thiết bị chế biến.
Từ những khó khăn đó, đại biểu kiến nghị cần hướng dẫn thống nhất hồ sơ, hóa đơn, chứng từ khi nhà trường mua thực phẩm từ nông dân, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, phân định rõ trường hợp nào bắt buộc lập hóa đơn, trường hợp nào được sử dụng bảng kê. Làm rõ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (VAT) bởi việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hay thu nhập cá nhân không đồng nghĩa với miễn thuế VAT.
Đồng thời, đại biểu đề nghị triển khai đồng bộ chính sách thuế với việc bố trí vị trí việc làm nhân viên nấu ăn và đầu tư hạ tầng bếp ăn trường học.
Đặc biệt, bàn về hiệu quả lan tỏa của chính sách, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) nhấn mạnh, việc miễn thuế cho nhà cung cấp là giải pháp hỗ trợ từ phía cung, khuyến khích họ đầu tư trang thiết bị, nâng cao năng lực chứ không nên hiểu cứng nhắc là toàn bộ số thuế được miễn phải được chuyển hóa ngay thành việc giảm giá trực tiếp từng suất ăn. Nguồn lực được giữ lại cần thời gian để tái đầu tư vào công nghệ chế biến, đào tạo nhân lực và cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị cụ thể hóa cam kết giám sát bằng các cơ chế quản lý chuyên ngành sẵn có, tránh việc đặt thêm các thủ tục hành chính nặng nề như yêu cầu cơ quan thuế phải đánh giá chất lượng từng bữa ăn hay bắt nhà cung cấp chứng minh đã giảm giá mới được miễn thuế. Đồng thời, đại biểu đề nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội trong thời hạn 3 năm kể từ khi chính sách đi vào hiệu lực để đánh giá toàn diện các yếu tố: đầu tư của nhà cung cấp, giá cả, chất lượng an toàn thực phẩm và mức độ thụ hưởng của người học, người bệnh tại các vùng miền khác nhau. Đây là mốc thời gian kiểm chứng hiệu quả chính sách để Quốc hội có căn cứ tiếp tục duy trì hoặc điều chỉnh cho phù hợp.
Ở chiều ngược lại, giữ vững quan điểm thận trọng về môi trường cạnh tranh thị trường, đại biểu Nguyễn Văn Thân cho rằng việc miễn thuế cho một nhóm đối tượng cung cấp suất ăn được lựa chọn sẽ tạo ra sự cạnh tranh thiếu bình đẳng so với các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực, từ đó triệt tiêu tính cạnh tranh lành mạnh. Đại biểu đề nghị giữ nguyên mức thuế hiện hành đối với nhóm này và dùng nguồn ngân sách thu được để trực tiếp hỗ trợ kinh phí ăn uống cho học sinh, bệnh nhân.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: Tiếp thu tối đa, làm rõ nhiều chính sách ưu đãi thuế trọng tâm
Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, tại phiên thảo luận ở tổ đã có 73 lượt ý kiến đóng góp; cơ quan soạn thảo cũng nhận được nhiều góp ý bằng văn bản từ các Đoàn đại biểu Quốc hội và đã ban hành Báo cáo số 913 tổng hợp, giải trình chi tiết. Tại phiên thảo luận tại hội trường, tiếp tục có ghi nhận ý kiến đại biểu phát biểu trực tiếp vào các nội dung sửa đổi.
Thay mặt cơ quan soạn thảo, Bộ trưởng khẳng định sẽ nghiêm túc tiếp thu toàn bộ các ý kiến trách nhiệm, xác đáng của các đại biểu Quốc hội; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra để hoàn thiện dự án luật trình Quốc hội thông qua, bảo đảm sớm đưa các chính sách vào cuộc sống.
Về chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở giáo dục, liên quan tới ý kiến của đại biểu về phân biệt và xác định tiêu chí cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, Bộ trưởng nêu rõ, cơ quan thuế thực hiện chức năng thu thuế, còn thẩm quyền và tiêu chí xác định cơ sở giáo dục không vì mục tiêu lợi nhuận đã được quy định chi tiết trong Luật Giáo dục.
Căn cứ vào giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp, cơ quan thuế sẽ thực hiện miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đúng đối tượng và đúng quan điểm chỉ đạo. Bộ trưởng nhấn mạnh, việc chăm lo cho giáo dục là trách nhiệm của toàn dân, thể hiện đúng quan điểm của Đảng xem giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Về đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động cung cấp suất ăn tại các cơ sở giáo dục và y tế, Bộ trưởng khẳng định đây là quyết tâm lớn của lãnh đạo chủ chốt nhằm chăm sóc tốt hơn cho học sinh và bệnh nhân. Để hưởng ưu đãi, luật đã quy định rõ điều kiện bắt buộc là các khoản thu nhập này phải được hạch toán riêng.
Liên quan đến băn khoăn của đại biểu về việc giảm bớt chi phí tuân thủ thuế, Bộ trưởng cho biết cơ quan soạn thảo luôn chú trọng tối giản thủ tục cho người nộp thuế. Theo đó, quy định hiện hành cho phép áp dụng 2 cách tính thuế: tính trên thu nhập (doanh thu trừ chi phí) hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu đối với doanh nghiệp nhỏ. Tại dự án luật lần này, ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản được nâng từ dưới 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng. Quy định mới này đáp ứng nguyện vọng của hơn 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp tối ưu chi phí tuân thủ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng: Yêu cầu rà soát kỹ lưỡng, hoàn thiện hồ sơ dự án luật trước khi trình thông qua
Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng ghi nhận, qua thảo luận, đa số ý kiến tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung 3 luật thuế; đồng thời đề nghị chính sách ban hành phải đúng đối tượng, công bằng, khả thi và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Với các nhóm vấn đề còn có ý kiến khác nhau, Phó Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, đối với chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu đề nghị làm rõ đối tượng thu nhập được miễn của tổ chức khoa học - công nghệ, cơ sở giáo dục và mối quan hệ với các ưu đãi hiện hành; quy định rõ tiêu chí "không vì mục tiêu lợi nhuận" của cơ sở giáo dục tư thục; điều kiện sử dụng phần thu nhập được miễn; phân định rõ hoạt động kinh doanh độc lập, kiểm soát giao dịch liên kết, cơ chế thu hồi ưu đãi, hậu kiểm cũng như phạm vi áp dụng đối với các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Đối với suất ăn giáo dục, y tế, cần so sánh, đánh giá làm rõ hiệu quả giữa phương án miễn thuế đối với thu nhập từ cung cấp suất ăn với phương án hỗ trợ trực tiếp. Trường hợp áp dụng miễn thuế, phải quy định cụ thể đối tượng, điều kiện, phương pháp hạch toán riêng, cơ chế bảo đảm lợi ích thực sự đến được với người học, người bệnh và đáp ứng nghiêm ngặt an toàn thực phẩm.
Đối với chính sách tiền thuê đất, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị giải trình, làm rõ việc miễn thuế đối với đất giáo dục - đào tạo so với chủ trương giảm tiền thuê đất tại Nghị quyết 71 của Trung ương; làm rõ các đối tượng được hưởng thêm và diện tích đất được miễn thuế trong trường hợp sử dụng đất kết hợp nhiều mục đích.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị Chính phủ chỉ đạo cơ quan soạn thảo phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra và các đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, tiếp thu, giải trình đầy đủ và kỹ lưỡng toàn bộ ý kiến của đại biểu Quốc hội, đặc biệt là những nội dung còn có ý kiến khác nhau.
Cơ quan soạn thảo cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thông qua ngay tại kỳ họp này, bảo đảm chất lượng dự thảo và dành đủ thời gian cho các đại biểu Quốc hội nghiên cứu.