|
| Ảnh chỉ mang tính minh họa - Ảnh AI |
Nguồn cung chưa theo kịp nhu cầu
Theo kết quả rà soát, tổng hợp của Sở Xây dựng Nghệ An, nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng trong giai đoạn 2026 - 2030 tăng cao do Tỉnh triển khai đồng thời nhiều dự án quy mô lớn, trong đó có các dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị và các công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu vật liệu không chỉ tập trung tại các dự án trọng điểm mà còn phát sinh thường xuyên từ hoạt động xây dựng dân dụng, phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới và các công trình hạ tầng kỹ thuật tại các địa phương.
Trong khi đó, nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường từ các mỏ đã được cấp phép khai thác chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dự kiến trong giai đoạn 2026 - 2030.
Cụ thể, đối với đá xây dựng, tổng công suất khai thác của các mỏ được cấp phép trên địa bàn Tỉnh khoảng 6,52 triệu m3/năm, khả năng cung ứng trong cả giai đoạn khoảng 32,99 triệu m3, chỉ đáp ứng khoảng 69% nhu cầu. Đối với cát xây dựng, khả năng cung ứng trong cả giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 11,4 triệu m3, đáp ứng khoảng 39% nhu cầu. Đối với đất san lấp, khả năng cung ứng từ các mỏ đã được cấp phép trong giai đoạn 2026 - 2030 chỉ khoảng 46,59 triệu m3, còn thiếu khoảng 102,84 triệu m3.
Thái Nguyên cũng đang bước vào giai đoạn triển khai hàng loạt dự án giao thông, công nghiệp, đô thị và hạ tầng được triển khai. Theo tính toán, nhu cầu đất san lấp, cát, sỏi, đá xây dựng ngày càng tăng, trong khi khả năng khai thác, cung ứng chưa theo kịp thực tế. Theo quy hoạch, nguồn tài nguyên làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên khá phong phú, với 94 mỏ đá vôi, 57 mỏ cát sỏi, 14 mỏ đá cát kết và 50 mỏ đất san lấp. Song, khi nhiều dự án cùng triển khai, sức ép lên các mỏ đang hoạt động ngày càng gia tăng.
Câu chuyện tương tự diễn ra tại nhiều địa phương khác. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), nguồn tài nguyên tại nhiều địa phương còn lớn nhưng chưa được chuyển hóa tương xứng thành nguồn vật liệu phục vụ công trường. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn cung, đáp ứng nhu cầu phát triển.
Chuyển hóa tiềm năng thành nguồn lực cho công trình, dự án
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng. Đơn cử có mỏ đã được cấp phép nhưng chưa thể khai thác do vướng mắc trong quá trình triển khai. Có doanh nghiệp khai thác mỏ đã bỏ vốn, hoàn thiện các thủ tục pháp lý, thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng bị người dân địa phương phản đối. Hệ quả là thời gian khai thác trôi đi, trong khi nguồn tài nguyên vẫn nằm dưới lòng đất.
Một nguyên nhân khác được chỉ ra là địa phương, chủ đầu tư chưa chủ động rà soát nguồn vật liệu ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, dẫn đến tiến độ các công trình, dự án bị phụ thuộc vào nguồn cung thị trường. Một số trường hợp nguồn vật liệu chưa được tính đúng, tính đủ từ khâu chuẩn bị đầu tư, nên khi triển khai dự án phải mua từ các mỏ thương mại, lại chịu ảnh hưởng từ biến động giá thị trường dẫn đến bị động trong nguồn cung.
Theo tổng hợp, rà soát của Bộ NN&MT, nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trên phạm vi cả nước về cơ bản có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia trong giai đoạn 2026 - 2030. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là trữ lượng phân bố không đồng đều giữa các vùng; tiến độ điều tra địa chất và đánh giá tiềm năng còn chậm; công suất khai thác chưa khai thác hết dư địa theo giấy phép; thủ tục đưa các mỏ mới vào khai thác còn kéo dài; chưa hình thành cơ chế điều phối nguồn vật liệu giữa các địa phương và các vùng kinh tế.
Do đó, việc điều phối nguồn vật liệu trên phạm vi quốc gia là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ.
Từ thực tế phản ánh của địa phương, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình, dự án trọng điểm quốc gia.
Theo chỉ đạo, Bộ NN&MT, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan có trách nhiệm nghiên cứu, xử lý các kiến nghị của Bộ NN&MT về nguồn vật liệu xây dựng; những nội dung vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét.
Theo đó, Bộ NN&MT được giao chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp thông tin về các mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối. Cơ sở dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên, phục vụ công tác quản lý, điều hành. Ngoài ra, xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng, liên tỉnh trong tháng 10/2026, bảo đảm ưu tiên nguồn cung cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.
Để khơi thông nguồn cung, một số địa phương đang chủ động triển khai những giải pháp mới, áp dụng cơ chế đặc thù phục vụ trực tiếp các dự án, công trình.
Đơn cử, ngày 7/7/2026, Sở NN&MT tỉnh Thái Nguyên đã có văn bản hướng dẫn những giải pháp chủ động nguồn vật liệu. Cụ thể, đối với các dự án thuộc nhóm được áp dụng cơ chế đặc thù, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục nâng công suất các mỏ đã được cấp phép để cung cấp vật liệu trực tiếp cho công trình. Việc nâng công suất phải xác định rõ công trình sử dụng vật liệu, khối lượng, thời gian và có hợp đồng cung cấp với chủ đầu tư hoặc nhà thầu. Khi công trình hoàn thành, việc nâng công suất cũng phải dừng theo kế hoạch.
Tại Nghệ An, UBND tỉnh này giao các ban quản lý dự án chuyên ngành, các chủ đầu tư và UBND xã, phường chủ động rà soát, cập nhật nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng của từng dự án ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư; xác định cụ thể chủng loại vật liệu, khối lượng, tiến độ sử dụng theo từng năm để làm cơ sở phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trong công tác cân đối nguồn cung.
Đối với các dự án trọng điểm, cần xây dựng phương án bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ thi công, hạn chế tình trạng thiếu vật liệu làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời, chủ động phối hợp với các đơn vị khai thác vật liệu xây dựng để xác định khả năng cung ứng, khoảng cách vận chuyển, tiến độ cung cấp vật liệu; kịp thời báo cáo các khó khăn, vướng mắc phát sinh để được xem xét, xử lý.
TS. Thái Duy Sâm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho rằng, việc gia tăng nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường phải được thực hiện đồng bộ, từ quy hoạch, thăm dò, cấp phép đến tổ chức khai thác và tiêu thụ. Theo đó, những vật liệu nào cung chưa theo kịp nhu cầu thì phải đẩy mạnh đáp ứng nguồn cung bằng cách tạo điều kiện cho các nhà thầu, chủ mỏ hoàn thiện thủ tục pháp lý để tăng khối lượng cho phép tại các mỏ cũ, hoặc mở rộng những điểm khai thác mới nếu bảo đảm điều kiện môi trường, nhằm khai thác được nhiều hơn trong thời gian tới.